Lịch Sử Hoa Kỳ

Chiến dịch Philadelphia (Cách Mạng Mỹ)

Chiến dịch Philadelphia xảy ra trong cuộc Cách mạng Mỹ (1775-1783). Quân đội Anh cố gắng chiếm đóng Philadelphia, thủ đô cách mạng của Mỹ

Nguồn: World History
Chiến dịch Philadelphia xảy ra trong cuộc Cách mạng Mỹ (1775-1783). Quân đội Anh cố gắng chiếm đóng Philadelphia, thủ đô cách mạng của Mỹ

Chiến dịch Philadelphia (diễn ra từ tháng 7 năm 1777 đến tháng 6 năm 1778) là một chiến dịch quân sự quan trọng trong cuộc Cách mạng Mỹ (1775-1783). Trong chiến dịch này, quân đội Anh dưới quyền Sir William Howe cố gắng chiếm đóng Philadelphia, thủ đô cách mạng của Mỹ, và hòng dụ Quân đội Lục địa tham gia vào một trận chiến quyết định. Mặc dù chiếm được Philadelphia, chiến dịch của Anh cuối cùng vẫn thất bại.

Bối cảnh

Năm 1777 ló dạng, Ngài William Howe, tổng chỉ huy quân đội Anh ở Bắc Mỹ, sốt ruột đi tới đi lui trong văn phòng ở New York. Năm vừa qua, chiến thắng như đã nằm trong tầm tay ông: đánh tan tác quân Mỹ ở trận Long Island (27 tháng 8, 1776), chiếm luôn thành phố New York, rồi còn đuổi đám quân Cách mạng xộc xệch chạy hết từ Manhattan qua tận New Jersey.

Người ta tung hô Howe ở London như anh hùng, đến vua còn ban tước hiệp sĩ. Nhưng chiến thắng cuối cùng vẫn ngoảnh mặt với ông, một phần vì tính thận trọng thái quá của Howe, phần nữa do tướng Mỹ George Washington quá cáo già. Tháng 12 năm 1776, Howe quyết định cho quân trú đông thay vì tiếp tục săn đuổi tàn quân Cách mạng đang èo uột, bệnh tật tùm lum. Chưa tới 3000 người khỏe mạnh, chả ai nghĩ quân Mỹ sống nổi qua mùa đông.

Ấy thế mà, Washington lì lợm, bất chấp bão tuyết, băng qua sông Delaware ngay đêm Giáng Sinh rồi giành tới hai chiến thắng bất ngờ ở Trenton (26 tháng 12) và Princeton (3 tháng 1, 1777). Cú này làm dậy sóng tinh thần Cách mạng Mỹ, giữ cho quân đội của họ không bị tan rã.

Quân đội Lục địa giờ đã đóng quân trên những ngọn đồi của Morristown, New Jersey. Mỗi ngày, lực lượng của họ lại càng thêm lớn khi tân binh kéo về nườm nượp. Nhưng điều đó không thể ngăn cản tướng Howe. Ông tin chắc vào lực lượng Tory (những người trung thành với Vương quốc Anh) đông đảo ở New York, nhóm đang cực kỳ lạc quan, gọi năm 1777 là “Năm của giá treo cổ” vì ba con số 7 trông như cái giá hành hình bọn phản loạn. Vốn không phải loại người thích vội vàng, Howe chẳng gấp gáp gì mà bắt đầu mùa chiến dịch tiếp theo, ông thường xuyên xuất hiện tại các bữa tiệc xa hoa hay các vở kịch, lúc nào cũng kè kè cô bồ nóng bỏng người Mỹ, bà Elizabeth Loring.

Nhưng những lúc không tiệc tùng với bọn thượng lưu New York, thì Howe lại mơ về Philadelphia. Thành phố này không chỉ là nơi họp của Quốc hội Lục địa mà còn là nơi đô thị lớn nhất Hoa Kỳ. Nó nằm không quá xa về phía nam so với vị trí hiện tại của Howe. Ông ta tin rằng, chỉ cần đe dọa thủ đô của quân nổi dậy thì có thể dụ được quân đội của Washington ra khỏi chỗ ẩn nấp, giao chiến ở nơi ông muốn. Nếu Howe có thể hủy diệt Quân đội Lục địa và chiếm được Philadelphia trong cùng một mùa chiến dịch, ông tin rằng cuộc nổi dậy của người Mỹ sẽ sụp đổ. Vào cuối năm, đám phản loạn sẽ đung đưa trên giá treo cổ còn các đám đông ở London sẽ tung hô tên tuổi của Howe.

Vào tháng 2, Howe đã viết về kế hoạch này cho Lord George Germain, Bộ trưởng Thuộc địa. Germain gửi thư trả lời phác thảo một chiến lược khác mà London đã chuẩn bị cho năm 1777: Tướng John Burgoyne sẽ dẫn một đội quân từ Canada hành quân về phía nam dọc theo sông Hudson, qua đó cô lập các thuộc địa New England và chia đôi Hoa Kỳ. Germain đề nghị liệu Howe có thể hành quân về phía bắc từ New York và hội quân với Burgoyne tại Albany hay không. Tổng tư lệnh Anh cảm thấy hơi khó chịu với yêu cầu này. Ông ta chả muốn đi làm nền cho chiến dịch đem về hầu hết vinh quang cho đối thủ Burgoyne, mà cũng chẳng muốn từ bỏ cơ hội vàng để chiếm được Philadelphia. Howe viết thư phản hồi cho Germain, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh chiếm Philadelphia, và hứa rằng mình sẽ hành quân hỗ trợ Burgoyne sau khi thủ phủ của phe nổi dậy sụp đổ. Germain đành phải đồng ý, cho phép Howe tiến hành, mặc dù không cung cấp đủ số quân tiếp viện cùng vật tư mà ông này yêu cầu. Bực bội nhưng Howe vẫn bắt tay chuẩn bị cho cuộc viễn chinh Philadelphia, chiến dịch mà ông tin rằng sẽ giúp ông chiến thắng cuộc chiến.

Chiến dịch bắt đầu

Quân Lục Địa (Mỹ) thì vẫn đóng quân tại Morristown, theo dõi nhất cử nhất động của quân Anh với vẻ mặt ngơ ngác. Biết bao nhiêu tàu Anh đã tiến vào Cảng New York, và có vẻ như quân đội đã sẵn sàng lên đường: liệu người Anh có chuẩn bị rút khỏi thành phố New York không? Không đâu, khó có chuyện tốt như vậy được! Chắc chắn họ đang lên kế hoạch tấn công một nơi nào đó khác. Nhưng là ở đâu? Để tìm hiểu, Washington đã di chuyển quân đội của mình ra khỏi Morristown và chiếm đóng vùng đất cao của Middlebrook, New Jersey, nơi sẽ giúp ông có cái nhìn rõ hơn về động thái của quân Anh.

Howe để ý đến sự thay đổi vị trí này và hiểu đó như một dấu hiệu cho thấy Washington đang nóng ruột. Vào ngày 13 tháng 7 năm 1777, với hy vọng đánh lạc hướng Washington, Howe đã điều động 18.000 binh sĩ vào New Jersey và cho họ diễu hành rầm rộ theo hướng sông Delaware, làm bộ như sắp sửa tấn công Philadelphia. Washington kiên quyết không mắc mưu – các trinh sát của ông đã báo cáo rằng quân Anh không mang theo hành lý, nghĩa là họ không thể lên kế hoạch hành quân xa tận Philadelphia được. Vậy là khi Washington không có dấu hiệu xao động, người Anh đành quay đầu và rút lui về Manhattan – rồi sau đó lại lên tàu trong cảng và dong buồm ra Đại Tây Dương vào ngày 24 tháng 7.

Howe quyết định đi đường biển thay vì hành quân bộ đến Philadelphia; việc di chuyển bằng đường bộ sẽ buộc quân Anh phải băng qua sông Delaware – tuyến đường đã được quân khởi nghĩa (Patriots) phòng thủ rất nghiêm ngặt, với Pháo đài Mercer và Pháo đài Mifflin canh giữ cửa sông. Sau một tháng lênh đênh khổ sở trên biển, hạm đội Anh tiến vào Vịnh Chesapeake, và các binh sĩ được đổ bộ vào ngày 25 tháng 8 tại Head of Elk, Maryland. Nghỉ ngơi vài ngày để hồi phục sau cơn say sóng, quân đội Anh sau đó hành quân vào Pennsylvania, thì bắt gặp tướng Washington đã đợi sẵn họ ở một con suối tên Brandywine Creek với khoảng 16.000 lính chính quy và dân quân.

Quân Mỹ có một vị trí phòng thủ vững chắc, bao phủ hầu hết các khu vực chính có thể lội qua suối Brandywine; tuy nhiên, có hai chỗ cạn nằm xa bên ngoài cánh phải của quân Mỹ đã bị bỏ sót. Joseph Galloway, một người trung thành với Hoàng gia Anh có tiếng ở Philadelphia, đã nói với Howe về những chỗ lội đó và đề nghị cung cấp người dẫn đường. Vì vậy, vào ngày 11 tháng 9 năm 1777, Howe ra lệnh cho 5.000 quân dưới quyền của tướng người Đức Wilhelm von Knyphausen tấn công chính diện quân Mỹ trong khi 9.000 quân Anh và Đức đi theo người dẫn đường vòng qua đánh úp cánh phải của Mỹ.

Quân Anh đánh úp thành công, khiến quân Mỹ bất ngờ. Washington hầu như không kịp điều thêm quân tới để ngăn cánh phải của mình sụp đổ. Đến cuối buổi chiều, Knyphausen đã đập tan trung tâm của đội hình Mỹ, và cánh phải sắp bị đánh bại, buộc Washington phải ra lệnh rút lui về Chester, một thị trấn bên bờ sông Delaware cách đó khoảng 14 dặm (22 km). Trong khi một lữ đoàn dưới quyền tướng Nathanael Greene cầm chân quân Anh tấn công dữ dội, phần còn lại của quân Mỹ đã rút lui thành công, lợi dụng màn đêm buông xuống. Đến lúc bình minh ngày 12 tháng 9, quân Mỹ đã đến được Chester an toàn. Mặc dù Howe đã giành chiến thắng trong Trận Brandywine, ông vẫn không thể triệt hạ quân đội chính quy của Mỹ, nên chưa hẳn đã thắng một cách quyết định. Tạm gác lại sự thất vọng, ông tiếp tục tiến về Philadelphia.

Philadelphia sụp đổ

Washington thì nhất quyết không chịu bỏ Philadelphia mà không đánh một trận đàng hoàng. Thế nên cả tuần sau đó ông tìm đủ cách ngăn Howe vào thành phố, mà quan trọng hơn là tránh đụng độ lớn để khỏi tự tay hủy diệt quân mình. Thế là tình thế trở nên căng thẳng, đến tận ngày 16 tháng 9 thì quân Anh mới tóm được đuôi quân Mỹ ở quán Warren Tavern, trên đường giữa Lancaster và Philadelphia. Hai bên dàn quân xong xuôi, tưởng là đánh nhau tới bến, thì tự nhiên có trận mưa to như trút nước, làm ướt hết thuốc súng với đạn dược, thế là khỏi đánh đấm luôn (sau này trận này có cái tên hài hước là “Trận Mây Mưa”). Tranh thủ lúc mưa gió, Washington lại cao chạy xa bay, tót qua bên kia sông Schuylkill vào ngày 19 tháng 9. Tuy nhiên, lúc rút quân thì Washington để lại một đội 1500 người do tướng Anthony Wayne chỉ huy, mục đích là theo dõi quân Anh và tiện thể thì đánh úp sau lưng họ nếu có cơ hội.

Khi tướng Howe chuẩn bị hành quân truy đuổi Washington, Wayne vẫn đóng quân tại quán rượu Paoli, chỉ cách doanh trại Anh 2 dặm (3 km). Wayne tự tin rằng lực lượng nhỏ bé của mình sẽ không bị quân Anh phát hiện, nhưng ông đã nhầm to. Đêm khuya ngày 20 tháng 9, một phân đội gồm 1.200 lính Anh dưới quyền Thiếu tướng Charles Grey lặng lẽ tiếp cận doanh trại của Wayne; Để giữ bí mật, Grey ra lệnh cho họ tháo hỏa mai khỏi súng và chỉ dùng lưỡi lê.

Khi Grey ra hiệu lệnh, quân Anh xông vào doanh trại Mỹ, dùng lưỡi lê đâm những người lính Mỹ đang lảo đảo bước ra khỏi lều. Wayne cố gắng tập hợp quân của mình để bắn một loạt đạn vào quân Anh, nhưng quân Mỹ nhanh chóng bị áp đảo và phải chạy trốn vào khu rừng tối tăm. Khoảng 200 lính Mỹ đã thiệt mạng hoặc bị thương trong cuộc tấn công, 100 người khác bị bắt làm tù binh. Trận Paoli được người Mỹ gọi là một cuộc thảm sát.

Washington vô cùng bối rối khi biết về Paoli, khiến ông trở nên thận trọng hơn bình thường. Howe, quyết định lợi dụng sự rụt rè của Washington, đã tấn công về phía bắc vào ngày 22 tháng 9, tạo ấn tượng rằng ông có ý định đánh bọc sườn Washington. Lục quân Cách mạng đã hành quân 10 dặm (16 km) về phía bắc để có vị trí tốt hơn, lúc này Howe nhanh chóng quay lại và tiến vào Philadelphia mà không gặp trở ngại nào.

Vào ngày 26 tháng 9 năm 1777, Huân tước Charles Cornwallis dẫn đầu đội tiên phong của quân đội Anh tiến vào Philadelphia. Đáng tiếc cho quân Anh, Quốc hội đã sơ tán khỏi thành phố, cư trú tạm thời tại thị trấn York, Pennsylvania.

Bảo vệ Delaware

Dẫu đã đạt được một mục tiêu quan trọng, tướng Howe vẫn chưa thôi thấp thỏm. Quân của Washington vẫn lởn vởn khuất tầm mắt tại Skippack Creek, cách đó khoảng 25 dặm (40 km), còn quân Mỹ vẫn nắm quyền kiểm soát tuyến Sông Delaware thiết yếu. Điều này đồng nghĩa Howe không thể dễ dàng chuyển quân nhu đến Philadelphia bằng đường thủy. Để tránh nguy cơ bị cả đạo quân bị cầm chân tại Philadelphia, Howe quyết định phân tán lực lượng. Ông chỉ giữ lại 3,000 quân trong thành phố và cử đại quân 9,000 lính đồn trú tại Germantown, một vùng ngoại ô gần đó. Washington thấy đây là thời cơ vàng để đánh úp quân Anh; sau cuộc hành quân gấp 23 dặm chỉ trong vòng một đêm, lính Mỹ mở màn tấn công rạng sáng ngày 4 tháng 10.

Ban đầu, cuộc tấn công diễn ra vô cùng suôn sẻ, lính gác của Anh bị bất ngờ đột ngột phải tháo chạy. Nhưng khi quân Mỹ tiến sâu về phía doanh trại địch, sương mù dày đặc khiến họ mất phương hướng. Mọi liên lạc giữa các đơn vị Mỹ bị gián đoạn, thậm chí hai lữ đoàn còn vô tình bắn nhầm lẫn nhau trong cơn hỗn loạn. Sự rối ren này đã mang lại thời gian quý báu cho quân Anh tập hợp và tổ chức phản công, đủ để đẩy lùi quân Mỹ. Lại một lần nữa, Lục quân Lục địa phải rút lui vào lúc cuối ngày nhưng tinh thần binh sĩ vẫn cao, bởi họ tin rằng (dù điều này không đúng) họ đã suýt nữa thì đánh bại được quân Anh.

Sau Trận Germantown, tướng Anh Howe tìm cách thắt chặt quyền kiểm soát Philadelphia bằng cách giành lấy sông Delaware. Con sông này được bảo vệ bởi hai đồn lũy của phe Yêu nước (Mỹ): Fort Mifflin nằm trên một hòn đảo giữa sông và Fort Mercer ở bờ Đông. Hạm đội tàu Pennsylvania dưới quyền Thiếu tướng John Hazelwood cũng hỗ trợ phòng thủ. Đầu tháng 10, Howe điều quân đánh chiếm đồn lũy, được yểm trợ bởi hải quân Hoàng gia Anh dưới sự chỉ huy của anh trai ông, Đô đốc Lord Richard Howe.

Ngày 11 tháng 10, Đô đốc Howe pháo kích Fort Mifflin từ biển trong khi vào ngày 22 tháng 10, 1,200 lính Đức do Đại tá Carl von Donop chỉ huy đã tấn công pháo đài Fort Mercer. Fort Mercer được 400 lính Yêu nước bảo vệ dưới sự chỉ huy của Đại tá Christopher Greene, một lực lượng đáng chú ý là Trung đoàn Đảo Rhode số 1 (nổi tiếng vì là trung đoàn đa số lính da đen đầu tiên trong quân đội Mỹ). Cuộc tấn công của Đức, được gọi là Trận Red Bank, đã thất bại với hơn 300 lính Đức thiệt mạng, bị thương hoặc bị bắt, bao gồm cả Donop – người đã bị trọng thương.


Dù thất bại ở Red Bank, quân Anh vẫn tiếp tục gây áp lực lên cả hai pháo đài. Vào ngày 10 tháng 11, Đô đốc Howe tung ra một cuộc pháo kích dữ dội vào Fort Mifflin, khiến pháo đài này phải đầu hàng năm ngày sau đó. Vào ngày 20 tháng 11, Bá tước Cornwallis đổ bộ với 2,000 quân tại một vị trí cách Fort Mercer tầm 5 cây số về phía nam. Đại tá Greene quyết định bỏ pháo đài thay vì mạo hiểm tính mạng binh sĩ của mình. Pháo đài này nhanh chóng rơi vào tay người Anh vào ngày hôm sau. Đến cuối tháng 11, Tướng Howe đã kiểm soát quyền tiếp cận sông Delaware – điều này cực kỳ quan trọng để cung cấp nhu yếu phẩm cho quân đội của ông trú đông tại Philadelphia.

Bài tương tự:

Trận White Marsh: Cuộc chiến mùa đông khốc liệt

Từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 12, quân Anh và quân cách mạng Mỹ đã giao tranh trong một loạt trận đánh nhỏ, mà sau này được gọi chung là Trận White Marsh. Sau cuộc chiến không phân thắng bại này, cả hai bên đều lui về trú đông: quân Anh ở Philadelphia, và Lục quân Lục địa (Continental Army) ở Valley Forge, cách đó khoảng 20 dặm (32 km).

Lúc này, tướng Anh Howe bắt đầu chán nản. Dù đã chiếm được Philadelphia, ông ta vẫn không bắt được Quốc hội Mỹ hay tiêu diệt Lục quân Lục địa. Việc thủ đô cách mạng thất thủ không gây ảnh hưởng tâm lý tiêu cực tới người Mỹ như Howe đã nghĩ, có nghĩa là chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Thật ra, việc tướng Burgoyne (đồng minh của Howe) đầu hàng trong Trận Saratoga dường như còn khiến phong trào cách mạng Mỹ khí thế hơn nữa (thiếu sự hỗ trợ của Howe, chiến dịch của Burgoyne đã sụp đổ). Howe đổ lỗi cho chính phủ Anh, nói rằng họ không hỗ trợ chiến dịch của ông ta đủ mạnh. Cuối tháng 10, Howe nộp đơn từ chức. Ông ta dành cả mùa đông ăn chơi cùng nhân tình ở Philadelphia cho đến tháng 4 năm 1778, khi tin tức đơn từ chức của ông được chấp thuận. Các sĩ quan của ông tiếc nuối khi tiễn ông ra đi, thậm chí tổ chức một bữa tiệc xa hoa gọi là Mischianza vào ngày 18 tháng 5 năm 1778 để đánh dấu sự ra đi của ông.

Trong khi đó, ở Valley Forge, Lục quân Lục địa gặp vô vàn khó khăn. Nhiều binh sĩ không có giày dép hay áo ấm, phải sống dựa vào khẩu phần ít ỏi. Rốt cuộc, giá lạnh, đói ăn và bệnh tật đã cướp đi sinh mạng của khoảng 2.500 người ở Valley Forge. Washington cố gắng hết sức để xoay chuyển tình hình. Ông tổ chức lại bộ phận hậu cần, bổ nhiệm cấp dưới thân cận Nathanael Greene làm tổng quân nhu. Ông cử các đội tuần tra đi khắp vùng nông thôn tìm lương thực và ra lệnh cho tất cả binh sĩ chưa tiêm phòng đậu mùa làm ngay. Thậm chí, ông còn phải chống chọi với cái gọi là “Conway Cabal” – một âm mưu hời hợt của mấy sĩ quan bất mãn và nghị sĩ muốn truất quyền chỉ huy của ông. Nhưng thành tựu quan trọng nhất ở Valley Forge chính là việc huấn luyện lại Lục quân Lục địa. Dưới sự giám sát của sĩ quan người Phổ Baron Friedrich Wilhelm von Steuben, lính Mỹ liên tục được tập luyện, học đội hình và kỹ thuật chiến đấu mới, rèn khả năng hành quân bài bản. Vì vậy, Lục quân Lục địa ra khỏi Valley Forge đã trở thành một lực lượng chiến đấu kỷ luật và hiệu quả hơn rất nhiều.

Quân Anh rút chạy

Vào tháng 2 năm 1778, Hoa Kỳ ký Hiệp ước Liên minh với Vương quốc Pháp. Không lâu sau, hạm đội Pháp được phát hiện rời cảng Toulon và tiến thẳng đến Châu Mỹ. Bộ chỉ huy của Anh bắt đầu lo ngại và phải thay đổi chiến lược sang thế phòng thủ. Họ ra lệnh cho Sir Henry Clinton, người thay thế tướng Howe, sơ tán Philadelphia và hành quân bảo vệ thành phố New York – nơi được coi là có giá trị chiến lược lớn hơn đối với quân Anh. Ngày 15 tháng 6 năm 1778, Clinton bắt đầu rút lui bằng đường bộ, toàn bộ quân Anh đã băng qua Delaware vào New Jersey ba ngày sau đó.

Washington truy đuổi gắt gao, khao khát khôi phục lại danh tiếng quân sự của mình sau những thất bại trong năm trước. Vào ngày 28 tháng 6, quân Mỹ tấn công quân Anh tại Trận Monmouth. Tướng Charles Lee, cánh tay phải của Washington, chỉ huy đội tiên phong Mỹ nhưng đã ra lệnh rút lui sớm, tạo cơ hội cho Clinton tập hợp lực lượng. Washington có mặt kịp thời tại chiến trường và bố trí lại đội hình đủ mạnh để chống trả đợt phản công của quân Anh. Trận chiến kết thúc mà chưa ngã ngũ, tuy nhiên kỷ luật chặt chẽ của binh lính Lục quân cho thấy khóa huấn luyện tại Valley Forge đã phát huy tác dụng.

Đến tháng 7, quân của Clinton quay lại thành phố New York còn Washington đặt sở chỉ huy của mình tại White Plains, cũng thuộc New York. Thế trận của hai đội quân gần như quay lại tình hình hai năm trước, vào tháng 10 năm 1776. Sau khi Philadelphia trở lại tay người Mỹ, Chiến dịch Philadelphia quy mô của Howe đã thất bại trong việc giành bất kỳ thắng lợi lâu dài nào. Thất bại kép từ Chiến dịch Philadelphia và Chiến dịch Saratoga của Burgoyne xảy ra cùng lúc (tháng 6 đến tháng 10 năm 1777), đã khiến Anh quyết định chuyển hướng từ miền bắc xuống miền nam Hoa Kỳ. Nghe đồn miền Nam có nhiều thực dân trung thành với Anh, mang lại khả năng chiến thắng lớn hơn. Chiến dịch lớn tiếp theo của Anh chỉ xảy ra vào năm 1780, với Cuộc vây hãm Charleston của Clinton (29 tháng 3 đến 21 tháng 5 năm 1780) mở màn cho cuộc xâm lược vào Carolina của Anh. Chiến dịch miền Nam này, đỉnh điểm là thất bại của quân Anh trong Cuộc vây hãm Yorktown, đánh dấu giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến.

5/5 - (1 vote)

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s