Con đường Tơ lụa (Ti lộ), nối liền Châu Á và Châu Âu, là một kênh trao đổi văn hóa và thương mại giữa 2 nền văn hóa Đông-Tây. Dọc theo Ti lộ, một loạt các thành phố lớn nổi lên và trở thành một nồi lẩu thập cẩm nơi các nền văn minh giao thoa lẫn nhau.
Con đường huyền thoại dành cho thương mại này kết nối Châu Á với Châu Âu thông qua vùng đất rộng lớn Trung Á. Các du hành gia và thương gia từ khắp các khu vực ngày nay là Trung Hoa, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, và Ý, vào lúc đó đều là một phần của Ti lộ. Nguồn gốc của Ti lộ phải truy ngược về lại đời Tây Hán khoảng năm 202 BC tới năm 9 AD. Tuy nhiên, dưới thời nhà Đường (618-907 AD), Ti lộ hoạt động tấp nập nhứt chưa từng thấy.
Từ các tư liệu khảo cổ còn sót lại, đặc biệt là khoảng 2 thập niên gần đây, đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy dòng hàng hóa và ý tưởng chảy không ngừng trên con đường này. Sành sứ, tơ lụa, giấy và thuốc súng du nhập từ Đông sang Tây, trong khi xa mã, sợi len, thủy tinh và rượu vang du nhập vào Trung Hoa. Thậm chí cả đà điểu và tê giác cũng len lỏi vào kinh thành Trường An. Việc liên kết các vùng đất ngoại lai đa dạng khiến Ti lộ trở thành một nơi hòa quyện của văn hóa, và điều này thể hiện rõ nhứt ở các thành phố phát triển dọc theo các tuyến đường thương mại cổ này.
1/. TRƯỜNG AN
Thành cổ Trường An, gần thành phố Tây An ngày nay thuộc Tỉnh Thiểm Tây, được coi như là cửa ngõ phía Đông của Ti lộ. Với hơn 1 triệu cư dân vào lúc đỉnh cao thạnh vượng, Trường An là một trong các thành phố lớn nhứt trên thế giới. Là đầu não chánh trị, trung tâm kinh tế-văn hoá của Trung Hoa cổ đại, dĩ nhiên Trường An là điểm đến yêu thích của du khách hải ngoại, hầu hết đều thông qua Ti lộ.
Dưới thời nhà Đường, Trường An có 2 khu chợ chính — Chợ Đông và Chợ Tây. Chợ Đông chủ yếu phục vụ cho Hoàng tộc và giới quý tộc, trong khi Chợ Tây phục vụ cho thường dân và cũng là khu chợ buôn bán hàng nhập khẩu. Chợ Tây phát triển thành một trung tâm thương mại hưng thịnh, nơi hàng hoá từ khắp nơi trên thế giới đổ về — trang sức, tơ lụa, trà, thảo mộc, và thuốc thang. Văn hóa và nghệ thuật ảnh hưởng tới Trường An thông qua kết nối thương mại với các quốc gia khác dọc theo Ti lộ, tác động tới thị hiếu của dân bản địa, từ thực phẩm cho tới thời trang.
2/. ĐÔN HOÀNG
Hơn ngàn năm qua, Đôn Hoàng là một trung tâm quan trọng về thương mại, văn hóa và quân sự trên Ti lộ. Thành Đôn Hoàng tọa lạc ở cực Tây của Hành lang Hà Tây, nơi giao nhau giữa 3 tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Tân Cương. Đó là một ốc đảo nhỏ nằm trong Sa mạc Gobi. Đôn Hoàng nắm giữ vị trí chiến lược, kết nối Trung Nguyên ở phía Đông với Tân Cương và Trung Á ở phía Tây.
Năm thứ 2 dưới triều Hán Võ Đế (khoảng năm 121 BC), quân Hung Nô bị quân Hán đánh bại. Đôn Hoàng trở thành trung tâm cho các hoạt động quân sự, thương mại, văn hóa, chánh trị và vận chuyển trên con đường từ Trung Nguyên cho tới miền Tây. Trong điều kiện đi lại chậm chạp, giao tiếp khó khăn, môi trường tự nhiên khắc nghiệt, Đôn Hoàng trở thành nơi trú ẩn cho con người, động vật và là điểm trung chuyển trao đổi hàng hóa trong suốt chặng đường dài.
Thành Đôn Hoàng trở thành nơi đầu tiên Phật giáo dừng chân trên con đường Đông du. Ngài Trúc Pháp Hộ và các vị tăng sinh đã dịch các văn bản Phật giáo và hoằng pháp ở Đôn Hoàng dưới thời nhà Tấn (khoảng 266-420 AD). Sau đó, một du tăng pháp danh Lạc Tôn đi tới Đôn Hoàng và kiến tạo ra Hang Mạc Cao hùng vĩ (hay còn gọi là Thiên Phật động). Cuốn sách in có niên đại sớm nhứt, một bản thảo Phật giáo thời nhà Đường được gọi là Kim Cang Kinh được phát hiện ở Đôn Hoàng vào năm 1907.
3/. KHÁCH THẬP (KASHGAR)
Khách Thập (Kashgar), nằm ở cực Tây Trung Hoa, là một điểm đầu mối trên Ti lộ hàng thế kỷ qua. Theo địa lý, Trung Hoa coi Khách Thập là miền “Viễn Tây hoang dã” của mình, là một địa khu cách không xa biên giới với Kyrgyzstan, Kazakhstan, và Pakistan. Thành Khách Thập phát triển mạnh do là giao diện giữa Trung Á và Trung Hoa, là điểm tập kết của các đoàn lữ hành đi về phía Tây tới Samarkand hay về phía Đông băng qua Sa mạc Tháp Khắc Lạp Mã Can (Taklamakan) đáng sợ.
Theo truyền thuyết, Hán Võ Đế biết được rằng người dân ở đây sở hữu loài ngựa đặc biệt từ trên trời xuống và đổ mồ hôi máu. Ông muốn trang bị những con tuấn mã này cho quân đội nên cử một sứ giả tới đây. Nhiệm vụ này mở ra con đường tới các khu vực phía Tây bên ngoài sa mạc. Kể từ đó, người Hán tuyên bố quyền cai trị ốc đảo Khách Thập và người dân ở đây. Tuy nhiên, họ chưa bao giờ có quyền kiểm soát hoàn toàn khu vực này, và trong hơn 2 thiên niên kỷ qua, họ chỉ cai trị Khách Thập trong vòng chưa đầy 500 năm, với nhiều lần bị gián đoạn. Tại đây, dân tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ vẫn chiếm phần lớn dân số.
Vào cuối thế kỷ, Khách Thập trở thành trung tâm của âm mưu, là xương sống cho tranh chấp giữa 3 nước lớn trên thế giới: Anh, Nga và Trung Quốc. Họ cùng nhau chơi trò “Bàn Cờ Lớn”, đấu tranh dành quyền thống trị Trung Á giàu có. Khách Thập trở thành nơi tập trung các nhà ngoại giao và gián điệp, quan chức và các nhà khảo cổ học, nhà thám hiểm và du hành từ khắp nơi trên thế giới.
4/. SAMARKAND
Nguồn gốc cho sự thạnh vượng của nhà Đường, cụ thể là hoạt động buôn bán hàng xa xỉ xuyên lục địa, phần lớn được tổ chức bởi một dân tộc mà bây giờ gần như bị lãng quên: người Khương-cư (Sogdian). Vào cuối thiên niên kỷ 1 BC, người Khương-cư đã có một nền văn minh rất phát triển với các thành thị lớn kiên cố như Samarkand (tiếng Hy Lạp là Marakanda). Nằm trên một cao nguyên ở cực Tây của Dãy Alai, Samarkand được hưởng lợi rất nhiều từ vị trí trung tâm của Ti lộ. Được thành lập cách đây khoảng 2750 năm, thành phố từng bị chinh phục bởi một số nhà cai trị nổi tiếng và quyền lực trong lịch sử, tỷ như Alexander Đại đế, Thành Cát Tư Hãn và Thiếp Mộc Nhi.
Từ thế kỷ 6 cho tới thế kỷ 8, người Khương-cư kiểm soát đế chế thương mại lớn nhứt Châu Á. Một điều kiện tiên quyết giúp họ thành công ở các quốc gia Châu Á, ngoài việc thông thạo nhiều ngôn ngữ, chính là cởi mở trong các vấn đề tôn giáo. Mặc dù nhiều cộng đồng người Khương-cư chủ yếu theo Bái Hỏa giáo, nhưng họ vẫn mở cửa cho các tôn giáo khác, như Phật giáo, Cơ Đốc giáo và Mani giáo. Một điều kiện khác khiến họ thành công chính là sự linh hoạt trong việc điều chỉnh doanh nghiệp cho phù hợp với bối cảnh chánh trị mới.
5/. BALKH
Thành cổ Balkh, được mệnh danh là “Mẹ của các thành thị”, bị quân đội của Thành Cát Tư Hãn phá hủy trong thập niên 1220. Afghanistan đã từng là trung tâm chánh trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo của Châu Á. Ti lộ thu hút vô số người du mục, chiến binh, người định cư, nhà thám hiểm và nhà truyền giáo trong khu vực, tất cả đều để lại dấu ấn của họ. Thành Balkh nằm cách thủ phủ Tỉnh Mazar-i-Sharif 22 km về phía Tây, bên bờ Sông Balkh.
Chính tại đây, Alexander Đại đế đã lãnh đạo một đội quân chiến đấu và tiêu diệt Vua Balkh, trước khi kết hôn với Công chúa Roxanne xinh đẹp. Vào đầu thế kỷ thứ 7, trước khi người Ả Rập xâm lược Ba Tư, nhà sư Huyền Trang trong chuyến du hành của mình đã phát hiện ra có rất nhiều người theo đạo Phật sống ở Balkh. Zoroaster, triết gia đã tạo ra tôn giáo độc thần đầu tiên cách đây 3500 năm, cũng sanh ra và qua đời ở đây. Thành Balkh cũng là nơi Rumi, nhà thơ Ba Tư vĩ đại của thế kỷ 13, sanh thành và nhiều người Afghanistan tin rằng Rumi đã được chôn cất ở đây sau khi ông qua đời.
Đọc thêm
6/. MERV
Thành cổ Merv nằm cách vùng ngoại ô phía Đông thành Mary, một thành thị nằm trên Sa mạc Karakum thuộc Turkmenistan, 30 km. Đây là một trong các di tích lịch sử quan trọng nhứt ở Turkmenistan và Trung Á, đã chứng kiến sự thạnh vượng và vinh quang của Ti lộ cổ đại. Ghi chép đầu tiên về thành cổ Merv xuất hiện trong các cuốn sách Ba Tư có từ thế kỷ 8-6 BC. Thế kỷ 12 AD, thành Merv cùng với Damascus, Baghdad và Cairo tạo thành một trung tâm có cộng đồng Hồi giáo lớn và có tác động sâu sắc tới văn minh Hồi giáo.
Là một trung tâm kết nối Trung Á với Ba Tư, thành cổ Merv là một sân khấu chứng kiến vô số đế chế va chạm nhau trong lịch sử. Thành thị này liên tục mở rộng và thể hiện sự đa dạng về phong cách kiến trúc và đặc điểm văn hóa. Nằm trên đỉnh cao nhứt của thành cổ là kiến trúc lâu đời nhứt còn tồn tại, Lâu đài El Kekara, được xây dựng vào thế kỷ 6 BC bởi nhà Achaemenid. Người Parthia, người Sassanid và người Thổ Seljuk đều để lại dấu ấn của riêng họ, và các đền thờ Phật giáo, Bái Hỏa giáo và Cơ Đốc giáo đều được xây dựng khắp thành.
Vào thế kỷ 13, thành cổ Merv bị tàn phá. Năm 1218, người Mông Cổ xuất hiện và yêu cầu cống nạp. Tuy nhiên, sứ giả đã bị giết để rồi năm 1221, con trai của Thành Cát Tư Hãn là Đà Lôi lãnh đạo một đội quân tiến vào thành, san bằng bình địa, tàn sát hàng trăm ngàn người, và ngay lập tức biến Merv thạnh vượng một thời thành tro bụi.
7/. CTESIPHON
Ctesiphon là một thành cổ lớn ở Lưỡng Hà, thủ phủ của Đế chế Parthia và người kế vị, Đế chế Sassanid. Thành tọa lạc bên bờ Sông Tigris, phía Đông Nam Baghdad, thủ phủ của Iraq. Vua Parthia là Mithridates I sử dụng thành Ctesiphon làm căn cứ để chiến đấu với nhà Seleucid, sau đó bị người La Mã chiếm đóng, và cuối cùng nằm dưới sự kiểm soát của Đế chế Sassanid. Khi vị Caliph thứ 2 là Umar nắm quyền, ông phái quân đội đi chinh phục Iraq. Vào năm 637 AD, Quân đội Ả Rập đánh bại Quân đội Sassanid và chiếm lấy thành thị này, sử dụng nó làm căn cứ để tiến về phía Đông chinh phục toàn bộ Ba Tư.
Sau hàng trăm năm bị chiếm đóng, thành Ctesiphon trở thành một trung tâm chánh trị và kinh tế quan trọng trên Ti lộ. Vào thời điểm đó, người dân coi thành thị này như là một thiên đường trên Trái Đất, nhưng tất cả những gì còn lại của tàn tích thành Ctesiphon ngày nay chỉ còn lại các bức tường gạch bùn cao và cung điện đổ nát. Trong số đó, cung điện khổng lồ có mái vòm của Vua Khosrow I nhà Sassanid là nổi tiếng nhứt, được gọi là Taq Kasra. Công trình này tự hào có vòm gạch không gia cố cao gần 30m trong sảnh chính, là mái vòm bằng gạch một nhịp cao nhứt trên thế giới.
8/. PALMYRA
Thành cổ Palmyra, nằm ở trung tâm Syria, là một thành thị nổi tiếng trên Ti lộ. Thành Palmyra toạ lạc tại một ốc đảo nằm rìa sa mạc Syria, ở phía Đông Bắc thành Damascus, nằm giữa Duyên hải phía Đông của Địa Trung Hải với Sông Euphrates. Từ thế kỷ 1 AD, đây là trung tâm thương mại kết nối Vịnh Ba Tư và Châu Á với Địa Trung Hải và Châu Âu. Thương gia mang lụa Trung Hoa, đồ sành sứ, và gia vị thảo dược để trao đổi đồ thủy tinh, màu nhuộm và ngọc trai.
Palmyra được mệnh danh là “Viên ngọc trai trong Sa mạc”. Thành này chiếm một diện tích khoảng 6 km² bao gồm các cột trụ, tháp canh, rào chắn, lăng mộ, đền thờ và các công trình kiến trúc khác nằm rải rác. Khi được sáp nhập vào Đế chế La Mã, thành Palmyra phát triển nhanh chóng và đạt tới đỉnh cao vào thế kỷ thứ 2 AD, trở thành thành phố lớn nhứt và thạnh vượng nhứt ở phía Đông của Đế chế La Mã. Năm 1957, trong một dự án đường ống dẫn dầu ở sa mạc Syria, các công nhân đã phát hiện ra một hầm mộ tại khu vực này. Đây là lăng mộ của Zenobia, nữ hoàng phương Đông cao quý và xinh đẹp nhứt Syria cổ đại, người đã phá bỏ ách thống trị của người La Mã và thành lập nên Đế chế Palmyrene. Tuy nhiên, thành Palmyra bị người La Mã phá hủy vào năm 273 AD.
9/. DAMASCUS
Thành Damascus, thủ phủ của Syria, là một thành thị xinh đẹp và sang trọng với hơn 4500 lịch sử. Toạ lạc tại chân Đồi Qasion hùng vĩ, với 7 nhánh sông Barada chảy qua ngày đêm, mang lại sức sống và thạnh vượng cho thành thị nổi tiếng vùng Tây Á này. Theo các ghi chép lịch sử, lụa từ Trung Hoa du nhập vào Damascus sớm nhứt là vào năm 115 AD. Lụa và gốm sứ từ Trung Hoa được vận chuyển tới Vương quốc Phoenicia (trên Duyên hải phía Đông của Địa Trung Hải, ngày nay là Syria và Lebanon) rồi qua vùng Petra (thuộc Jordan ngày nay). Lụa được xử lý và được nhuộm màu để đáp ứng cho nhu cầu của người La Mã. Sau đó, lụa thành phẩm được vận chuyển tới các chợ ở Rome và Damascus để bán.
Tàn tích của một số “caravanserai” (nơi lưu trú cho các đoàn lữ hành) cổ vẫn có thể được nhìn thấy ở Damascus. Những tòa nhà đồ sộ bằng gỗ và đá này chủ yếu được tìm thấy gần các khu chợ trong Thành Cổ. Chúng được chia thành tầng trên và tầng dưới, với một giếng trời ở giữa. Tầng dưới là nơi buộc lạc đà và ngựa, trong khi tầng trên có các phòng là nơi các thương gia buôn lụa ở. Giếng trời được sử dụng để bày bán tơ lụa. Các “caravanserai” như thế này đã từng được nhìn thấy dọc theo Ti lộ, cung cấp những địa điểm rất cần thiết cho các đoàn lữ hành nghỉ ngơi.
10/. CONSTANTINOPLE
Suốt chiều dài lịch sử, Istanbul đã từng là thủ phủ của Đế chế La Mã, Đế chế Byzantine, Đế chế Ottoman và Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ mới ngày đầu lập quốc. Từ lâu, nơi đây đã trở thành trung tâm chánh trị và tôn giáo của vùng Cận Đông. Trong quá khứ, với cái tên Constantinople, thành thị này là nơi kết hợp các tinh hoa tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật của tất cả các dân tộc ở Âu, Á và Phi, do đó trở thành nơi giao thoa cho hệ tư tưởng và văn hóa Đông-Tây.
Vào thế kỷ thứ 7 BC, người Hy Lạp lần đầu tiên xây dựng nên thành thị này, để rồi sau đó nó trở thành thủ phủ của Đế chế Đông La Mã. Năm 330 AD được đổi tên thành Constantinople, và sau khi người Thổ Ottoman chiếm giữ thành công vào năm 1453, họ đổi tên thành Istanbul. Năm 1923, Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ chuyển thủ phủ tới thành Ankara, nhưng Istanbul vẫn là thành phố lớn nhứt của Thổ Nhĩ Kỳ. Trong lịch sử, Constantinople là một trung tâm thương mại và là con đường thông quan duy nhứt cho các thương hạm từ khu vực Hắc Hải. Thành phố được xây dựng trên giao lộ giữa Châu Á và Châu Âu và thường được xếp vào trạm cuối thuộc Châu Á trên Ti lộ./.























































