Tiền chỉ là giấy, hoặc một dãy số trong tài khoản ngân hàng – Ngày nay hầu hết chúng ta đều quan niệm như vậy.
Nhưng thực ra khái niệm “tiền” trừu tượng hơn thế nhiều. Sử gia nổi tiếng người Anh, Charles Selman (1886-1957), từng định nghĩa súc tích như sau:
“Khi kim loại được dùng trong giao dịch hàng hóa, nó được gọi là tệ (currency); Khi tệ được phân thành những định lượng cụ thể thì nó trở thành tiền (money); Và khi tiền được khắc dấu thì nó trở thành đồng tiền (coin).”
Ba khái niệm currency, money, và coin sẽ được lập lại nhiều lần trong bài này, và mình giữ cách gọi trong tiếng Anh cho dễ phân biệt. Nên các bạn hãy lưu ý đến sự khác nhau của chúng.
Trước khi coin ra đời
Currency có trước money, và xuất hiện lần đầu tiên ở vùng Cận Đông khoảng năm 3100 TCN, khi văn minh bắt đầu chớm nở.
Người Ai Cập xây dựng một hệ thống đo lường giá trị, sử dụng quý kim để định giá các mặt hàng. Đơn vị tính là deben, tương đương 93.3gr đồng, bạc, hoặc vàng.
Đến Vương triều thứ 12 (1985-1773 TCN), thời Trung Vương Quốc Ai Cập, thì họ bổ sung đơn vị kite, tương đương 10gr. 10 kite bằng 1 deben, vàng hoặc bạc.
Theo Seltman, kite và deben của người Ai Cập vừa là currency vừa là money.

Cách Ai Cập 700 dặm về hướng đông, cư dân vùng Lưỡng Hà cũng phát triển một hệ thống đo đếm riêng dựa trên định lượng bạc. Các khám phá khảo cổ ở thành Umma cho ta biết người Sumer từ sớm đã có hệ thống kế toán dựa theo bạc. Mọi thương nhân được nhà nước cấp phép hoạt động đều phải báo cáo thu chi của họ theo tiêu chuẩn bạc cho mọi giao dịch hàng hóa không phải là bạc.
Hệ thống tiền tệ của Ai Cập và Lưỡng Hà ban đầu hoạt động khá trơn tru, nhưng càng về sau càng rối, nên cuối cùng họ phải cải tiến.
Bài liên quan: Thương mại ở Lưỡng Hà cổ đại
Tiền đồng (Coin) xuất hiện
Vương quốc Lydia được coi là nơi đầu tiên nảy sinh ra ý tưởng đúc vàng hoặc bạc thành những miếng nhỏ có định lượng đồng nhất, mà ta gọi là tiền đồng (coin).

Vương quốc này nằm ở vùng trung du Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, khoảng thời gian 680-652 TCN, dưới thời vua Gyges, rất thịnh vượng. Sẵn trong lãnh thổ có nhiều quặng hợp kim vàng-bạc, ông cho thu gom về khu chế xuất của nhà nước để tách riêng hai thứ quý kim này ra, rồi đúc thành những đồng tiền đầu tiên của nhân loại.
Ý tưởng xuất sắc này nhanh chóng được người Hy Lạp học tập.
Đến thế kỷ 6 TCN, nhiều thành bang Hy Lạp cổ đại đã biết đúc tiền đồng bằng vàng hoặc bạc, gọi là drachma. Sau Chiến tranh Peloponnesia (431-404 TCN), họ nghĩ ra thêm nhiều ý tưởng mới về tiền. Quan trọng nhất có lẽ là phát minh ra “ngân hàng”.
Ngân hàng Hy Lạp xuất hiện đầu tiên ở Athen trong thời gian Chiến tranh Peloponnesia, tất nhiên là nó rất khác so với ngân hàng ngày nay.
Ngân hàng đầu tiên chính là Đền Pathernon, chức năng ban đầu là tài trợ cho cuộc chiến với Sparta. Vàng thỏi và vàng dưới các dạng khác cúng vào đền thờ được đúc thành tiền đồng. Đền thờ còn cho vay kiếm lời. Có một ban thường trực để vận hành nền tài chính của đền thờ, hoạt động rất hiệu quả.
Các đền thờ khác khắp cõi Hy Lạp nhanh chóng học theo mô hình này để huy động tài chính cho nhà nước cũng như tư nhân.
Người La Mã lại học theo người Hy Lạp. Khác biệt chính giữa đôi bên đó là người La Mã không dùng đơn vị drachma, mà dùng denarius, tính bằng bạc. Đồng kém hơn là sestertius bằng đồng, 4 đồng đổi 1 denarius. Thấp hơn nữa là đồng as, 4 đồng đổi 1 sestertius.
Các dạng tiền khác
Có một số nền văn hóa sử dụng tiền không phải quý kim. Như vương quốc Kongo ở châu Phi (Thế kỷ 14-1914) xài sắt miếng, và phổ biến hơn la vỏ sò làm tiền. Loại sò họ dùng gọi là nzimbu, chỉ có ở vùng biển nước họ, nên được họ coi trọng.
Vương quốc Kongo còn buôn nô lệ, nên họ cũng dùng nô lệ như một loại tiền. nzimbu là loại tiền quốc nội, còn buôn bán với ngoại bang thì thanh toán bằng nô lệ. Những ông vua Kongo có mối quan hệ khăng khít với các nước châu Âu, nhất là Bồ Đào Nha. Họ thèm khát vũ khí châu Âu, nhưng người Bồ thì lại không cần vỏ sò của họ, mà chỉ chấp nhận trả bằng nô lệ.
Sự phát triển của tiền giấy

Hãy nói về người Trung Quốc, một nền văn minh tách biệt với phương Tây cũng như Cận Đông. Từ thời Chiến Quốc các nước ở Trung Hoa đều có hệ thống tiền tệ của riêng họ, và có tỉ lệ quy đổi tiền khi từ nước này qua nước khác. Như người nước Tề khi “nhập cảnh” vào nước Tần thì phải đổi sang Tần tệ để tiêu xài.
Ý tưởng tiền giấy manh nha xuất hiện vào thời nhà Đường (960-1279) trong bối cảnh tiền kim loại bị mất giá trị và kỹ thuật in ấn ra đời.
Khám Phá Lịch Sử Thế Giới
Nhưng có một lý thuyết căn bản trong tư duy của người nhà Đường khi sử dụng tiền giấy: Tiền giấy chỉ là phương tiện thanh toán, tự nó không có giá trị như tiền kim loại. Ý tưởng này rất quan trọng và có tính cách mạng, nhanh chóng lan rộng.
Tiền giấy phát triển muộn hơn ở châu Âu, và có lẽ độc lập với Trung Hoa. Thời Thập Tự Chinh, Dòng Đền mở ngân hàng trên khắp châu Âu và Trung Đông để tài trợ cho các hoạt động của họ. Nhà dòng cung cấp dịch vụ tài chính cho khách hành hương Ki-tô. Khách có thể gửi tiền ở ngân hàng này, ví dụ ở Pháp, được cấp một tờ “biên nhận” (banknote), dùng để rút tiền ở một ngân hàng khác cùng hệ thống, như ở Jerusalem.
Hình thức “biên nhận” này tác động sâu rộng tới hoạt động ngân hàng ở Venice và các thành bang khác của Ý trong thời Phục Hưng, từ đó mà hình thành hệ thống ngân hàng châu Âu hiện đại.
Bản vị vàng

Từ thế kỷ 15 đến 19 xảy ra ít thay đổi về tiền, ngoại trừ việc tiền giấy xuất hiện ở mọi nơi. Nhưng khi tiền giấy được dùng phổ biến thì chính quyền phải tìm cách kết nối nó với một thứ gì đó có giá trị cụ thể.
Năm 1717, hệ thống tiền với tên gọi “bản vị vàng” ra đời ở Anh. Các quốc gia phương Tây nhanh chóng áp dụng hệ thống này. “Bản vị vàng” tức là mỗi tờ tiền do chính phủ phát hành đều tương ứng với một lượng vàng cụ thể. Có bao nhiêu vàng thì in bấy nhiêu tiền. Nhà nước chỉ cần ấn định giá trị pháp lý cho tiền tệ của họ, rồi các cơ quan tài chính sẽ mua và bán vàng theo giá trị đã định.
Tất cả tiền giấy của nhà nước đều có thể chuyển đổi thành vàng, nhờ đó mọi cá nhân đều có thể nhập và xuất vàng tự do thông qua tiền.
Hệ thống này hoạt động ổn định và có khả năng tự điều chỉnh. Chẳng hạn, nếu một quốc gia bị thâm hụt thương mại (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu) thì vàng sẽ chảy ra nước ngoài, và lượng tiền cung ứng sẽ giảm xuống, kéo giá cả giảm theo. Nhà nước sẽ phải tìm cách tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu lại để thương mại được cân bằng.
Hệ thống này cũng giúp kiềm chế lạm phát. Ngoài Anh, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, và Áo-Hung còn có Argentina, Nhật, Nga, và Mỹ cũng sử dụng bản vị vàng.
Tuy nhiên, nhiều quốc gia muốn phá giá tiền của họ, dẫn đến hệ quả rời bỏ hệ thống. Đòn chí tử cho hệ thống bản vị vàng là Thế Chiến I. Hầu hết các quốc gia đi vay nợ để tài trợ chiến tranh, điều này đi ngược lại triết lý của bản vị vàng.
Hệ thống Bretton Woods
Chiến tranh Thế giới thứ Nhất gần như đánh dấu chấm hết cho hệ thống bản vị vàng. Nhưng nó không giải quyết được những vấn đề địa chính trị trên thế giới, cũng như không làm giảm tầm quan trọng của vàng.
Chiến tranh Thế giới thứ Hai nổ ra chỉ chưa đầy một thế hệ sau đó, một phần cũng do chính các vấn đề kinh tế. Khi cuộc chiến đi dần đến hồi kết, lãnh đạo phe Đồng minh quyết định thiết lập một hệ thống tiền tệ mới. Các nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế phương Tây gặp nhau tại Khách sạn Mount Washington ở Bretton Woods, New Hampshire trong “Hội nghị Tài chính và Tiền tệ của Liên Hợp Quốc” để định hình nền kinh tế thời hậu chiến. Dẫn đầu hội nghị là nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1893-1946), vốn đã nổi tiếng với các lý thuyết kinh tế của mình.

Keynes cho rằng hệ thống tài chính hậu chiến nên dựa trên các nguyên lý kinh tế quan trọng của ông, nhấn mạnh vào việc kiểm soát thất nghiệp và thúc đẩy tiêu thụ hơn là kiểm soát lạm phát. Kinh tế học Keynes, như người ta hay gọi, cho rằng chính phủ cần can thiệp sâu để đạt mục tiêu này. Tuy nhiên, Keynes không ủng hộ “tiền cứng”, tức là neo giá tiền vào vàng hoặc các kim loại quý khác.
Cuối cùng các bên đi đến một thỏa hiệp. USD sẽ được dùng cho giao dịch quốc tế, nhưng đồng thời có thể quy đổi thành vàng. Hệ thống này được đặt tên là “Hệ thống Bretton Woods”, kế thừa một phần hệ thống bản vị vàng đã sụp đổ.
Nhưng chỉ các chính phủ mới được đổi đô la sang vàng, cá nhân không được. Ngoài ra, chưa có cơ chế quy định việc in bao nhiêu USD. Hệ quả là đến năm 1960, lượng đô la lưu thông trên thế giới đã nhiều hơn lượng vàng dự trữ của Mỹ ở Fort Knox.
Dù vậy, nền kinh tế toàn cầu ở phương Tây vẫn hoạt động khá tốt. Thất nghiệp thấp và tình hình nhìn chung ổn định.
Tuy nhiên, Hệ thống Bretton Woods cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro bị thao túng. Có lẽ do bất bình với việc người Mỹ làm cho đồng đô la mất giá, Pháp đã đổi 150 triệu đô la dự trữ vàng thành vàng vào năm 1965. Sau đó Pháp rời NATO vào năm 1966 và rời nhóm Gold Pool năm 1968, về cơ bản chấm dứt sự tham gia của họ vào Bretton Woods.
Do thiếu cơ chế ngăn chặn sự đầu cơ, và hạn chế việc in tiền, hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào năm 1971. Tổng thống Mỹ Richard Nixon tuyên bố vào ngày 15 tháng 8 năm 1971 việc kiểm soát tiền lương và giá cả, cũng như đánh thuế nhập khẩu siêu ngạch. Ông còn tuyên bố từ đây đô la không được đổi sang vàng, hệ thống Bretton Woods coi như chấm hết.
Tiền tệ trôi nổi và cách mạng tiền kỹ thuật số
Sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế chấm dứt Hệ thống Bretton Woods vào năm 1973, thế giới chuyển sang cơ chế “tiền tệ trôi nổi”. Thay vì giá trị tiền được quy đổi bằng vàng hay kim loại quý, giá trị sẽ do thị trường điều tiết và tiền tệ trở thành loại tiền pháp định (“fiat money”) – một hình thức ‘ghi sổ’ không có giá trị hữu hình như vàng. Trong 50 năm qua, cơ chế tiền pháp định ít thay đổi, nhưng thời đại công nghệ nay mở ra cánh cửa mới.
Các chính phủ đang thử nghiệm hình thức tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC). Đây là dạng tiền tồn tại hoàn toàn ở dạng kỹ thuật số.
Tuy ba mươi năm gần đây nhiều nước đã phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, nhưng CBDC sẽ còn tiến xa hơn. Các chuyên gia dự đoán mọi giao dịch, kể cả giữa người với người, sẽ sử dụng các ví tiền kỹ thuật số. Một ý tưởng tiền tệ đặt tính riêng tư làm cốt lõi thì nay lại gây lo ngại về quyền riêng tư cho người dùng!
Bitcoin ra mắt năm 2009 nhưng ban đầu ít gây chú ý. Thậm chí còn ai biết mặt mũi Satoshi Nakamoto, ‘cha đẻ’ của công nghệ này. Trong nhiều năm, Bitcoin bị coi là trò lừa đảo, nhưng hiện nay vốn hóa thị trường của nó đã trên 850 tỷ đô la Mỹ và dần được chấp nhận rộng rãi.
Tư duy đằng sau Bitcoin làm các nhà kinh tế ấn tượng đến nỗi họ sử dụng công nghệ của nó để tạo ra các dạng CBDC tương tự.






























































