Lịch Sử Hoa Kỳ

Bắc Mỹ thời kỳ tiền Columbus (Tiền-thuộc địa)

Bắc Mỹ thời tiền-Columbus gồm nhiều giai đoạn với các nền văn hoa pha trộn nối tiếp nhau, cho tới khi thực dân châu Âu xuất hiện

Model of Cahokia Mounds

Thuật ngữ này chỉ khoảng thời gian từ khi người Paleo-Indian di cư đến Bắc Mỹ (khoảng 40.000 – 14.000 năm trước) cho đến khi các bộ lạc bản địa tiếp xúc với người thực dân châu Âu vào thế kỷ 16. Sự kiện này đã xóa sổ nền văn hóa Mỹ bản địa, thay thế nó bằng những vùng đất sau này trở thành Canada và Hoa Kỳ.

Sự khởi đầu của quá trình thực dân hóa

Christopher Columbus (1451-1506) khởi xướng quá trình thực dân hóa châu Mỹ của người châu Âu vào năm 1492 khi ông đặt chân đến Tây Ấn. Điều này đã thúc đẩy những nỗ lực của người Hà Lan, Pháp và cuối cùng là người Anh trong việc thiết lập các thuộc địa ở Bắc Mỹ từ năm 1534 đến 1620. Trong 100 năm tiếp theo, Bắc Mỹ bị thực dân hóa với tốc độ chóng mặt.

Trước khi người châu Âu đến, người Mỹ bản địa sống độc lập thành các quốc gia (hay còn gọi là các bộ lạc) trên khắp lục địa. Các vùng đất này trải dài từ Alaska ngày nay, qua Canada và khắp 48 tiểu bang ở phía Nam nước Mỹ. Để nghiên cứu thời kỳ này thuận tiện hơn, các học giả hiện đại đã chia nó thành các giai đoạn:

  • Văn hóa Clovis (Paleo-Indian): khoảng 40.000 – 14.000 năm TCN
  • Văn hóa Dalton-Folsom: khoảng 8500 – 7900 năm TCN
  • Thời kỳ Cổ xưa: khoảng 8000 – 1000 năm TCN
  • Thời kỳ Rừng cây: khoảng 500 năm TCN – 1100 năm CN
  • Văn hóa Mississippi: khoảng 1100 – 1540 năm CN

Sự khác biệt trong tiến trình phát triển

Điều quan trọng cần lưu ý là dù các nhà nghiên cứu cố gắng phân định chính xác niên đại, các nền văn hóa Mỹ bản địa khác nhau của khu vực Bắc Mỹ vẫn phát triển với tốc độ đa dạng, không đồng nhất. Không có sự phát triển đồng bộ của mọi nền văn hóa bản địa cùng một thời điểm ở khắp mọi nơi. Một số quốc gia tiếp tục sử dụng công nghệ đi kèm với các truyền thống có từ Thời kỳ Rừng cây trong khi những quốc gia khác đã phát triển theo cách đặc trưng của văn hóa Mississippi. Hơn nữa, giai đoạn “Văn hóa Dalton-Folsom” được sử dụng trong bài viết này là một thuật ngữ chung cho một khoảng thời gian, trong đó có nhiều nền văn hóa khác biệt. Các nền văn hoá này có thể được phân biệt thông qua cách thức chúng chế tạo vũ khí.

Một số quốc gia vẫn duy trì đời sống săn bắn hái lượm di cư hoặc bán du mục lâu hơn những cộng đồng khác – những cộng đồng đã xây dựng các khu đô thị phức hợp, tham gia vào các hoạt động nông nghiệp và thương mại. Tuy nhiên, không nên coi các cộng đồng sau “phát triển cao” hơn các cộng đồng đã duy trì hình thức săn bắn hái lượm. Người dân ở Great Plains (Đại Bình Nguyên) duy trì lối sống này lâu hơn những người ở bờ biển phía Đông đơn giản bởi địa hình và thú săn thích hợp hơn với khu vực này.

Các quốc gia và nền văn hóa trên khắp Bắc Mỹ đã phát triển trật tự xã hội phức tạp, xây dựng các trung tâm đô thị hoành tráng, tham gia vào hoạt động thương mại đường dài và nông nghiệp quy mô lớn. Họ đã phát minh ra các hệ thống thủy lợi, mà một số vẫn còn tồn tại ở Hoa Kỳ đến tận ngày nay (cụ thể là ở khu vực Tây Nam, đáng chú ý nhất là ở vùng quanh thành phố Phoenix, Arizona). Tuy nhiên, khi càng có nhiều người thực dân Châu Âu đến đây trong thế kỷ 17 và 18, người Mỹ bản địa dần bị đẩy vào các vùng đất hạn chế (reservation). Họ mất đi những vùng lãnh thổ đã sinh sống hàng nghìn năm vào tay những dòng người nhập cư châu Âu, những người cuối cùng coi mình là chủ sở hữu hợp pháp của các vùng đất từng thuộc về người bản địa.

Văn hóa Clovis

Các nhà khoa học vẫn tranh luận về thời điểm người cổ đại di cư từ Châu Á đến Bắc Mỹ. Theo hệ thống niên đại dài (long chronology), họ di cư khoảng 40.000 năm trước. Theo niên đại ngắn (short chronology), quá trình này diễn ra khoảng 14.000 năm trước. Niên đại dài có thể chính xác hơn khi xét đến sự phân tán và phát triển của các dân tộc trên khắp Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Có giả thuyết cho rằng họ có thể di chuyển bằng thuyền, men theo bờ biển cho đến khi định cư ở các khu vực như California, Mexico ngày nay và xa hơn về phía nam. Sự di cư có thể xảy ra đồng thời bằng cả đường bộ và đường thủy. Nhà nghiên cứu Ron Fisher nhận định:

“Các nhà khảo cổ học hầu hết đều thống nhất rằng châu Mỹ đã có người sinh sống từ khoảng 30.000 năm trước, khi phần lớn lượng nước trên thế giới bị đóng băng, tạo thành cầu nối đất rộng 600 dặm nối liền Alaska và Siberia. Người cổ đại đã băng qua cây cầu đất Bering này mà không biết rằng họ đang di cư. Qua nhiều thế kỷ, họ lần theo dấu vết con mồi, thời tiết và bản năng của chính mình, từ từ tiến về phía trước, dần lan tỏa khắp châu lục như phấn hoa theo gió.”

Nền văn hóa được xác định sớm nhất là Clovis, được đặt tên theo “Mũi tên Clovis” được phát hiện lần đầu tiên tại Clovis, New Mexico vào năm 1929. Đây là những mũi giáo được chế tác từ đá, dùng chủ yếu để săn bắt. Sau khi được tìm ra ở New Mexico, người ta cũng nhận diện chúng ở các nơi khác trên khắp lục địa. Mặc dù dường như có những nền văn hóa sớm hơn cả Clovis, danh xưng này vẫn được dùng để mô tả văn hóa săn bắn hái lượm, tồn tại chủ yếu dựa vào săn bắt các loài thú lớn như bò rừng bison khổng lồ, hải ly khổng lồ, voi răng mấu, voi ma mút, hổ răng kiếm,…

Người Clovis được cho là đã đi theo các mô hình di cư của con mồi lớn cho đến khi tập trung sinh sống tại một khu vực cụ thể. Tại thời điểm này, dường như họ đã bắt đầu giao thương với các cộng đồng khác.

Fisher ghi nhận:

“Bởi vì mũi tên thường được tìm thấy ở xa nơi sản xuất, các nhà khảo cổ học biết rằng mọi người từ các xã hội khác nhau đã trao đổi chúng, thông qua buôn bán hoặc làm quà tặng. Các di chỉ khảo cổ khác nhau cũng cho chúng ta biết về loại hình nhóm sử dụng mũi tên: một địa điểm nhỏ chứa nhiều mũi tên trên đồi có thể là nơi trú ẩn săn bắn của nam giới; một địa điểm ven sông với công cụ làm thức ăn có thể là nơi định cư của phụ nữ.” (11)

Thay đổi khí hậu và định cư

Khi khí hậu thay đổi, nhiều loài động vật tuyệt chủng do bị săn bắn quá mức, các loài thú lớn dần biến mất và chỉ còn tồn tại các loài thú nhỏ. Người cổ đại do đó bắt đầu chuyển dịch đến các khu định cư lâu dài hoặc bán lâu dài ở gần hồ, suối và sông để đánh bắt thủy sản.

Văn hóa Dalton-Folsom

Sự thay đổi trong mô hình sinh sống này đã phân biệt Văn hóa Clovis (trước đó) với Văn hóa Dalton-Folsom (sau đó). Tên của hai nền văn hóa này bắt nguồn từ những mũi phóng được tìm thấy chủ yếu ở Tây Nam (Folsom) và Trung Tây (Dalton), nhưng vẫn xuất hiện rải rác khắp Bắc Mỹ, được xác định niên đại vào khoảng 8500-7900 TCN. Học giả Alan Taylor nhận xét về sự phát triển này:

“Sự thay đổi khí hậu và sự suy tàn của các loài động vật khổng lồ đã khiến các nhóm người du mục phải theo đuổi các chiến lược đa dạng hơn để khai thác nhiều nguồn thực phẩm hơn. Người bản địa phải tìm hiểu môi trường địa phương của họ một cách kỹ lưỡng hơn để thu thập sò, cá, chim, hạt, quả mọng và củ. Chế độ ăn của người da đỏ tập trung vào việc đánh bắt cá nhiều hơn khi họ phát triển lưới, bẫy và lưỡi câu bằng xương. Cuộc sống săn bắn của họ đã phát triển thành việc kiên nhẫn và theo dõi kéo dài những loài động vật có vú nhanh nhẹn hơn, đặc biệt là hươu, linh dương, nai sừng tấm, và tuần lộc. Bắt đầu từ khoảng chín nghìn năm trước, người da đỏ đã thích nghi với những con mồi nhỏ hơn, nhanh nhẹn hơn bằng cách phát triển atlatl – một loại phóng lao mang lại lực đẩy, vận tốc và khoảng cách lớn hơn. (8-9)”

Các đầu nhọn của những ngọn giáo được phóng bởi atlatl (một cây gậy được chạm khắc với một cái móc ở một đầu để giữ phần dưới của mũi phóng) chính là những mũi tên Dalton-Folsom đặt tên cho nền văn hóa này. Atlatl chỉ là một trong những công cụ được phát triển trong thời kỳ này, vì người Dalton-Folsom cũng phát triển dao đá, dụng cụ cạo, mũi khoan và các công cụ khác. Các mũi giáo được mài lại sau mỗi cuộc đi săn bằng cách sử dụng một loại đá mài, và những con dao được chế tạo với các cạnh răng cưa, khá sắc, để cắt thịt và da làm quần áo. Nền văn hóa này cũng cho thấy những dấu hiệu đầu tiên của tín ngưỡng tôn giáo và kiếp sau dựa trên hiện vật được tìm thấy tại các địa điểm được xác định niên đại trong giai đoạn này.

Thời kỳ Cổ xưa và Người xây đắp gò đất

Niềm tin vào một sức mạnh thiêng liêng, thần thánh đã truyền tải các giá trị văn hóa của Thời kỳ Cổ xưa, đặc trưng bởi việc xây dựng các gò đất lớn, còn được gọi là “người xây đắp gò đất”. Những gò đất này ban đầu được tạo ra như những không gian linh thiêng, nơi các nghi lễ được thực hiện và có thể cũng được coi là nơi ở của các vị thần, thể hiện vị thế của các vị tư tế cao hơn phần còn lại của cộng đồng.

Khu dịch tích Poverty Point tại Louisiana
Khu dịch tích Poverty Point tại Louisiana

Những gò đất sớm nhất có niên đại vào khoảng Thời kỳ Cổ xưa Trung kỳ vào khoảng năm 5400 TCN, chủ yếu ở Louisiana ngày nay (cụ thể là Gò Ouachita tại Watson Brake, khu phức hợp gò đất lâu đời nhất ở Bắc Mỹ), Mississippi, và các tiểu bang xung quanh. Các khu định cư lâu dài được thành lập vào thời điểm này và thực vật và một số động vật đã được thuần hóa. Đến lúc này, loài chó đã được thuần hóa và theo một số học giả, chúng di chuyển tới đây cùng với những người di cư đầu tiên từ châu Á.

Các cộng đồng nhỏ vào Thời kỳ Cổ xưa Sơ kỳ và Trung kỳ đã phát triển thành các thành phố lớn hơn vào Thời kỳ Cổ xưa Muộn khi các khu di tích như Poverty Point ở Louisiana ngày nay được thành lập. Khu di tích Poverty Point được những người xây dựng nên nó (nằm trong Văn hóa Poverty Point) đặt tên theo tên của đồn điền của Phillip Guier ở thế kỷ 19. Không ai nhận ra rằng những “ngọn đồi” này thực chất là các công trình đất nhân tạo do người Mỹ bản địa tạo ra cho đến năm 1953, khi một bức ảnh chụp từ trên không cho thấy rõ ràng các công trình đất này được xây dựng đồng tâm hướng ra một cao nguyên.

Thời Kỳ Woodland

Xây dựng gò đất tiếp tục và phát triển trong Thời kỳ Woodland (thường được chia thành các giai đoạn Đầu, Giữa và Cuối). Thuật ngữ này thường gắn liền với các khu vực phía đông và trung tâm của Bắc Mỹ, nhưng cũng có thể áp dụng cho Tây Nam và Great Plains bởi những tiến bộ tương tự đã được thực hiện trên khắp lục địa. Đồ gốm trở nên tinh tế hơn, đồ thủ công nói chung cũng vậy, được chứng minh qua các tác phẩm điêu khắc, dụng cụ và vũ khí.

Ở Tây Nam, các quốc gia như Hohokam đã xây dựng các thành phố và thiết kế các hệ thống thủy lợi hiệu quả. Còn tại Alaska, người Inuit đã phát triển đèn đá, lưỡi câu lớn, dao và lao móc tốt hơn. Về phía đông, các quốc gia riêng lẻ xây dựng các gò đất không chỉ là nơi linh thiêng mà còn cho mục đích mai táng và nơi cư trú. Mỗi nhóm khác nhau cũng tham gia thương mại đường dài và địa phương.

Tôn Giáo và Các Di Chỉ Khảo Cổ

Một trong những phát triển đáng kể nhất là trong lĩnh vực tôn giáo, được chứng minh bằng các hiện vật được tìm thấy tại các địa điểm khác nhau. Poverty Point cho thấy rõ ràng một mức độ cao về hoạt động tôn giáo từ rất sớm, tuy tôn giáo chỉ là một khía cạnh của địa điểm này vì nó cũng là nơi ở.

Một số địa điểm khác của Thời kỳ Woodland, chẳng hạn như Pinson Mounds ở Tennessee ngày nay, được xây dựng và sử dụng hoàn toàn cho các mục đích tôn giáo. Địa điểm Pinson bao gồm 17 gò đất lớn và các đồ tạo tác được phát hiện ở đó cho thấy rõ ràng rằng nơi này chưa bao giờ là nơi ở mà phục vụ một mục đích thiêng liêng.

Thuyết Vật Linh và Quan Điểm Tự Nhiên

Người Mỹ bản địa tuân theo niềm tin tôn giáo về thuyết vật linh – niềm tin rằng tất cả mọi thứ trong tự nhiên đều được truyền sức sống bởi một linh hồn và tất cả đều được kết nối với nhau. Do đó, họ nhận ra rằng thế giới vô hình cũng thực và mạnh mẽ như thế giới mà họ đang sống trong cuộc sống hàng ngày. Taylor nhận xét:

“Người bản địa tin rằng con người sống bên trong, chứ không phải tách biệt khỏi mạng lưới tự nhiên và siêu nhiên. Họ hình dung các mối liên hệ của họ với tất cả các sinh vật không-phải-con-người về cơ bản có tính xã hội, liên quan đến các sinh vật giống hơn là không giống bản thân họ. Quả thật, trong các huyền thoại và giấc mơ của họ, con người và các sinh vật khác có thể biến hình thành nhau. Như trong mọi khía cạnh của cuộc sống người bản địa, nguyên tắc cơ bản trong việc khai thác thiên nhiên là theo đuổi sự đối ứng. Mọi người cảm thấy hợp lý khi tuyên bố muốn chia sẻ sự sống quanh họ, nhưng cũng cảm thấy có nghĩa vụ đáp lại bằng cách bày tỏ lòng kính trọng trong các nghi lễ và bằng cách giảm thiểu lãng phí.”

Sự có đi có lại này diễn ra dưới hình thức các cử chỉ biết ơn cá nhân và cộng đồng đối với cuộc sống của một con vật bị giết hoặc một cái cây bị chặt để lấy gỗ. Các địa điểm linh thiêng như Pinson Mounds là một biểu hiện khác của tình cảm tương tự này. Người ta cho rằng, việc xây dựng gò đất nói chung là một phản ứng đối với thế giới vô hình.

Các thế lực của tự nhiên có thể được tập trung và, có lẽ, được kiểm soát bằng cách đặt chúng ở trung tâm của một gò đất nâng những người tham gia lễ lên trời nhưng vẫn giữ họ kết nối vững chắc với trái đất. Vì các gò đất cũng thường được dựng lên gần nước, người ta cho rằng cả bốn yếu tố đất, không khí, lửa và nước đều được tôn vinh và cảm tạ trong các nghi lễ ở gò đất.

Here’s the Vietnamese translation of the text, organized with headings to boost readability. I’ve taken some liberties to make it flow well in Vietnamese:

Văn hóa Mississippi

Văn hóa Mississippi được đặt tên như vậy bởi người dân sinh sống chủ yếu ở Thung lũng sông Mississippi. Tuy nhiên, nền văn minh này cũng có các thành phố và làng mạc ở Thung lũng sông Ohio, Thung lũng sông Tennessee và các khu vực khác trải dài từ vùng Đông Bắc đến Louisiana và hướng ra Indiana. Các nền văn hóa nổi tiếng nhất của nền văn minh Mississippi là văn hóa Adena (khoảng 800 TCN – 1 CN) và văn hóa Hopewell (khoảng 100 TCN – 500 CN), nổi tiếng với việc xây dựng vô số các gò đất cũng như sự phát triển giao thương, thương mại, thủ công mỹ nghệ và kỹ nghệ. Adena xây các gò đất hình nón trong khi Hopewell chế tác các gò đất phức tạp hơn, thường có hình dạng động vật, phục vụ cho mục đích tín ngưỡng.

Tẩu hút Adena

Giống với Khu di tích Poverty Point, chỉ khi nhìn từ trên cao thì người ta mới có thể chiêm ngưỡng trọn vẹn các gò đất của nền văn hóa Hopewell. Làm thế nào người xưa có thể tạo ra những công trình mà họ không thể thấy toàn cảnh vẫn còn là một bí ẩn. Kỹ năng của người Adena và Hopewell trong chế tạo gốm sứ, tác phẩm nghệ thuật và kỹ nghệ như làm mương thủy lợi rất ấn tượng, ngang với tài năng nông nghiệp và trao đổi hàng hóa của họ. Học giả Yvonne Wakim Dennis nhận xét về cái nhìn về người Mỹ bản địa như những “kẻ man di cao quý”, sống lặng lẽ trên các vùng đất:

“Xa rời hình ảnh những đứa con thụ động của thiên nhiên như được mô tả trong các ghi chép thời thuộc địa… người Da Đỏ thực ra chủ động quản lý tài nguyên một cách có tính toán và quy mô. Người dân vùng Trung Tây cũng không phải những kẻ du mục giản đơn mà là các kỹ sư đô thị hóa, thương nhân buôn đường dài và nông dân với quy mô canh tác rộng.”

Cahokia

Một quốc gia khác, được coi là tách biệt với cả Adena và Hopewell, đã xây dựng thành phố Cahokia (thuộc Illinois ngày nay), trung tâm đô thị lớn nhất ở Bắc Mỹ trước thế kỷ 18, phát triển rực rỡ từ khoảng 650 – 1350 CN. Cahokia có thể đã phát triển nhờ sự kêu gọi của tầng lớp tu sĩ đối với các cộng đồng lân cận đến và tham gia xây dựng gò đất nghi lễ khổng lồ của thành phố – ngày nay được gọi là Monks Mound (Gò đất tu sĩ) – cùng với 119 gò đất khác phục vụ cho mục các mục đích khác nhau.

Cahokia là một thành phố nguy nga với quảng trường trung tâm rộng lớn, cửa hiệu, sân bóng, lịch mặt trời, khu dân cư cho tầng lớp bình dân và cho giới thượng lưu, bên cạnh những cánh đồng ngô và nông sản rộng lớn. Việc người Cahokia trồng ngô là một trong những điểm khác biệt của họ so với các nền văn hóa trước đó. Sản lượng ngô của họ không chỉ nuôi sống người dân trong thành phố mà còn được dùng để trao đổi buôn bán ở cả tầm gần và xa.

Moundville

Một thành phố lớn khác, ngày nay được biết đến với cái tên Moundville (nằm ở Alabama) cũng tham gia vào hoạt động buôn bán tầm xa và thu hút nhiều người hành hương đến các nghi lễ tôn giáo từ khoảng 1100 – 1450 CN. Các tên gọi gốc của Cahokia và Moundville hiện vẫn chưa được xác định. Cahokia được đặt tên theo bộ tộc sống gần đó vào thời điểm người châu Âu lần đầu tiên chú ý đến khu di tích vào thế kỷ 19. Tên gọi Moundville thì đơn giản mô tả hình ảnh của thành phố với vô số gò đất rải rác quanh sông Black Warrior.

Người dân Moundville duy trì một hệ thống phân cấp xã hội nghiêm ngặt, được thể hiện thông qua kiến trúc thành phố. Giới thượng lưu sống trong những ngôi nhà gỗ trên đỉnh các gò đất hướng ra quảng trường trung tâm, trong khi giới bình dân sống trong các túp lều tranh đơn sơ nằm xa quảng trường hơn. Có vẻ như dần dần thành phố này trở thành một trung tâm tôn giáo và điểm hành hương với mật độ dân số ngày càng tăng trong khi các hiện vật khai quật được cho thấy tần suất các nghi lễ tôn giáo cũng nhiều hơn.

Tổng kết

Văn Hóa Mississippi

Văn hóa Mississippi vẫn đang phát triển mạnh mẽ, dù rằng đô thị Cahokia đã bị bỏ hoang (rất có thể do dân số quá đông), vào thời điểm nhà thám hiểm Tây Ban Nha Hernando de Soto (khoảng 1500-1542) đặt chân đến khu vực này vào năm 1541. Đội quân nhỏ của De Soto đi tìm kho vàng mà họ nghe đồn là có rất nhiều trong vùng, và tàn sát nhiều người bản địa khi cho rằng họ đang che giấu kho báu. Cuộc thám hiểm của De Soto cũng mang theo các bệnh dịch mà người bản địa không có khả năng miễn dịch, gây ra rất nhiều cái chết ngay cả sau khi De Soto qua đời và người của ông rút về bờ biển.

Sự xâm chiếm của người Châu Âu

Người Tây Ban Nha tiếp tục thực hiện các cuộc tấn công vào các khu vực phía nam và tây nam của Bắc Mỹ, trong khi người Pháp thiết lập thuộc địa ở Canada và khắp vùng Trung Tây của nước Mỹ ngày nay kéo dài xuống đến Louisiana. Người Pháp cũng mang theo mầm bệnh dẫn đến cái chết của vô số người bản địa, tương tự như những gì người Anh đã làm khi họ bắt đầu đến.

Người Anh lần đầu tiên cố gắng thiết lập thuộc địa thông qua Roanoke vào năm 1585 và lần nữa vào năm 1587, nhưng cả hai nỗ lực đều thất bại. Cuối cùng họ đã thành công với Thuộc địa Jamestown ở Virginia vào năm 1607. Thuộc địa này cũng suýt rơi vào thất bại nếu không có sự can thiệp và hỗ trợ từ các bộ lạc bản địa thuộc Liên minh Powhatan. Người Anh cũng nỗ lực xâm chiếm New England vào năm 1607 thông qua Thuộc địa Popham. Ban đầu họ nhận được sự trợ giúp từ người bản địa, nhưng thuộc địa này cuối cùng đã sụp đổ. Vùng New England được người Anh chiếm đóng thành công vào năm 1620 với việc thành lập Thuộc địa Plymouth – cũng nhờ sự sống còn vào sự trợ giúp của người Mỹ bản địa, lần này là bởi các bộ lạc thuộc Liên minh Wampanoag. Các thuộc địa khác ở New England nhanh chóng được thiết lập sau đó.

Cuộc chiến giành đất đai

Khi ngày càng nhiều người châu Âu đến “vùng đất của cơ hội”, họ chiếm đoạt nhiều lãnh thổ của người bản địa, ngày càng đẩy cư dân ban đầu vào sâu trong nội địa. Người bản địa chống trả qua một loạt cuộc chiến tranh từ Chiến tranh Anglo-Powhatan (1610-1646) đến Chiến tranh Vua Philip (1675-1678) và tiếp tục xuyên suốt thế kỷ 18 và 19. Tuy nhiên sự thiếu gắn kết và thống nhất giữa các bộ lạc, cùng với nguồn cung dồi dào người nhập cư mà người Anh liên tục đưa tới, dần khiến người da đỏ thất bại. Đến cuối thế kỷ 19, hầu hết người Mỹ bản địa bị giới hạn trong các khu bảo tồn. Những người nhập cư sau khi cướp đất của họ thông qua các hiệp ước không bao giờ được tôn trọng, đã định cư và đặt tên cho các tiểu bang, tỉnh, sông và công viên theo tên của những cư dân từng sở hữu tất cả vùng đất này.

Đánh giá post

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s