Lịch Sử Tổng Hợp

Cổ sử Singapore (Cổ Tân Gia Ba Chư Bang Địa Temasek – Singapura)

Singapore ngày nay là một đất nước hiện đại với cư dân toàn cầu. Nhưng ngược dòng lịch sử, hòn đảo này từng trải qua nhiều thời kỳ biến động xa xưa.

Singapore ngày nay là một đất nước hiện đại với cư dân toàn cầu. Nhưng ngược dòng lịch sử, hòn đảo này từng trải qua nhiều thời kỳ biến động xa xưa.

A. Termasek (HẢI PHỐ) – LONG NHA MÔN

I. Lịch sử

Singapore tuy ngày nay là 1 quốc đảo giàu có, phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á với vị trí địa lý cực kỳ hợp phong thuỷ cho việc trở thành trạm trung gian mậu dịch hàng hải của khu vực Đông Nam Á – Trung Hoa với Ấn Độ – châu Âu khi nằm trên biển Nam Trung Hoa a.k.a Nam Dương, biển Đông ngay phía nam – đông nam của đầu mút cực nam bán đảo Mã Lai nói riêng lẫn bán đảo Trung Ấn nói chung tại phía đầu của lối ra vào Eo biển Malacca ở hướng biển Nam Trung Hoa cũng như đối diện với nó qua eo biển Malacca là đảo Sumatra của Indonesia giữa lúc đối diện qua eo biển hẹp hơn là eo biển Johor ở phía trên thì là bang Johor thuộc phần lãnh thổ nằm trên lục địa châu Á song lịch sử hiện đại của Singapore chỉ thực sự bắt đầu từ lúc sỹ quan thuộc địa người Anh kiêm tác gia tác phẩm Lịch sử Java là Thomas Stamford Bingley Raffles a.k.a Stamford Raffles (5 tháng 7 năm 1781-5 tháng 7 năm 1826) dẫn 1 đoàn thuỷ thủ đặt chân tới khu vực đảo chính Singapore a.k.a Pulau Ujong vào ngày 29 tháng 1 năm 1819 vốn trước đó 1 ngày là ngày 28 tháng 1 năm 1819, đoàn người của Stamford Raffles đã tới 1 đảo phụ thuộc của Singapore là đảo Thánh John nằm cách ngoài khơi đảo chính 6 cây số rưỡi trong khi lịch sử xa xưa hơn của Singapore thì lại ít ai biết tới.

Cái tên của Singapore bắt nguồn từ 1 tên cổ của đảo quốc này được nhắc tới trong sử liệu của người Mã Lai là Bảng phả hệ các vua a.k.a Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu được viết vào thời điểm Hồi quốc Malacca đang thịnh vượng trong thế kỷ 15 rồi được tái biên tập vào năm 1612 bởi Tun Muhammad bin Tun Ahmad a.k.a Tun Sri Lanang (1565-1659), quan chưởng quỹ tài chính từ năm 1580 tới năm 1615 của Hồi quốc Johor là quốc gia kế tục Hồi quốc Malacca viết về phả hệ các vua từ Singapura xuống Malacca là Singapura và vương quốc Singapura chính là quốc gia lịch sử nổi danh của đảo quốc Singapore khi mà không phải đợi tới khi được người Anh phát hiện rồi phát triển, xây dựng nó thì Singapore mới trở thành điểm đầu mút giao thông – thương mại của khu vực Đông Nam Á mà lần ngược từ tận thời điểm Singapura được thành lập vào cuối thế kỷ 13, nơi này đã mang trong mình tố chất của 1 cảng thị thương mại tầm cỡ quốc tế đủ sức lu mờ những đối thủ thương mại xung quanh.

Tuy là Singapura là quốc gia nổi danh nhất trong lịch sử đảo quốc Singapore vì đây là mẫu quốc của Hồi quốc Malacca hay nói đơn giản là vua cuối cùng của Singapura là Parameswara vốn gốc là hoàng tử Palembang trên đảo Sumatra sau khi Singapura bị mất vào tay kẻ thù đã vượt eo biển Johor để vào bán đảo Mã Lai rồi tới Melaka a.k.a Malacca nằm ven eo biển Malacca để lập nên Hồi quốc Malacca vào năm 1400, Singapura chỉ là tên gọi của Singapore ở 1 phần thời kỳ quân chủ từ năm 1299 tới năm 1398 trong khi cũng theo Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu thì ở giai đoạn trước đó thì cái tên Temasek Hải Phố mới là tên thường gọi của đảo chính Singapore Pulau Ujong.

Con người đã cư trú tại đảo Singapore từ rất là lâu đời dù rằng thời điểm con người bắt đầu xuất hiện tại đảo Singapore thì tới nay vẫn còn chưa được xác định rõ song vì Singapore là 1 phần của thế giới người Mã Lai tại Nam Dương nên ta có thể chắc chắn 1 điều là cùng với làn sóng di dân ra khắp nơi gồm Đông Nam Á Hải đảo cùng châu Đại Dương từ bản quán tại đảo Đài Loan của dân Nam Đảo thì nhóm cư dân gốc chiếm lĩnh đảo Singapore cùng bán đảo – quần đảo Mã Lai (lãnh thổ các nước Malaysia, Indonesia, Brunei, Đông Timor, Phillippines) là người thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo vốn là 1 chi của đại gia đình Nam Đảo Đại tộc/Nam Đảo đại chủng bên cạnh các ngữ hệ khác của đại gia đình Nam Đảo như Đông Formosa gồm các nhóm ngôn ngữ Kavala của người Kavala, Amis – Sakizaya của các tộc Amis- Sakizaya cùng Siraya của tộc Siraya phân bố tại miền đông, cực bắc cùng tây nam đảo Đài Loan (nhóm Kavala ở miền cực bắc, Amis tại miền đông trong khi Siraya tại tây nam Đài đảo); nhóm Tây Nguyên ở miền Tây Đài Loan gồm tiếng các tộc người Thao, tiếng Babuza của dân Babuza – Taoka cùng Papora-Hoanya; Tây bắc Formasa gồm các tiếng Saisiyat, Pazeh, Kulun; nhóm Atayalic gồm các ngôn ngữ Atayal cùng Seediq ở trung – bắc đảo Đài Loan, Paiwan ở cực đông nam đảo Đài Loan trong lúc nhóm Puyuma thì sát bên còn Rukai thì dù cũng tại đông nam Đài Loan song bị kẹp giữa Paiwan, Puyuma cùng nhóm Bunun ở nội địa miền trung Đài đảo vốn tại khu vực nội địa miền trung Đài đảo cũng là nơi phân bố của nhóm ngôn ngữ Tsou giữa lúc dù đa dạng và đông đảo hơn chi Đài ngữ Formosa thì tại bản quán đảo Đài Loan, ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo chỉ thực sự xuất hiện từ đảo cực bắc Phillippines gần Đài Loan là đảo Yami a.k.a Mavulis, Dimavulis trở xuống các khu vực Nam Dương lẫn châu Đại Dương xa tới tận miền trung Thái Bình Dương với 2 phân chi chính là Mã Lai – Đa Đảo phân bố từ đảo Hải Nam ra dọc theo chuỗi quần đảo Mã Lai vào lục địa lên bán đảo Mã Lai, miền trung Việt Nam (tiếng Chăm) lẫn tây tiến xa nhất tới đảo Madagascar ngoài khơi Đông Phi cùng phân chi Đại Dương gồm các đảo Thái Bình Dương ở khơi phía đông lãnh thổ Phillipines xuống Papua New Guinea trước khi tẽ làm 2 ngả với 1 ngả đâm thẳng ra vùng trung Thái Bình Dương như Tân Caledonia, Fiji, Vanuatu giữa lúc 1 ngả tràn xuống tới tận quần đảo New Zealand.

Dù không rõ thời điểm con người bắt đầu cư trú tại đảo Singapore song ít nhất thì Singapore đã được người ta ghi chép 1 cách rời rạc từ tận thời cổ đại mà mở màn cho việc đó là việc nhà thiên văn học, nhà toán học, nhà địa lý, chiêm tinh người Ai Cập -Hy Lạp thời La Mã đầu Công nguyên là Claudius Ptolemy (khoảng 100 – khoảng 170) có nhắc tới địa danh Sabana ở đầu mút Bán đảo Hoàng Kim Golden Chersonesos là tên gọi mà các nhà địa lý La Mã – Hy Lạp thời cổ dùng gọi Bán đảo Mã Lai vốn bản thân Claudius Ptolemy cũng dùng cả tên này trong tác phẩm địa lý Địa Lý được viết vào khoảng năm 150 của mình.

Tất nhiên thì ngoài khơi điểm cực đông nam của bán đảo Mã Lai có rất nhiều đảo khác nhau gồm quần đảo Riau thuộc lãnh thổ Indonesia với đảo chính Singapore chính là nơi gần nhất với bán đảo Mã Lai nên cũng không loại trừ địa danh Sabana cũng có thể được Claudius Ptolemy dùng gọi các đảo nào đó trong khu vực ngoài đảo chính Singapore Pulau Ujong song có 1 bằng chứng hữu hiệu khác về quá khứ con người cư trú lâu dài tại Singapore trước cả khi hòn đảo nổi danh với hiện tượng nhìn thấy con sư tử chính là sự kiện quan đại thần Đông Ngô thời Tam quốc Trung Hoa ở thế kỷ thứ 3 được cử đi sứ nhiều nước phía nam là Khang Thái cùng Chu Ưng đã viết ra tác phẩm Ngô Thì Ngoại Quốc truyện (Truyện về các nước ngoại quốc thời Ngô) ghi chép về những 100 nước/tộc Nam Dương cả lớn lẫn nhỏ từ Phù Nam Đế chế xuống các man tộc như Tây Đồ Di, Khuất Đô Bộc… vốn trong số Nam Dương Bách quốc mà Khang Thái ghi chép trong Ngô Thì Ngoại Quốc truyện, Khang Thái có nhắc tới địa danh Bồ La Chung với Bồ La Chung được cho là tên phiên âm Hán tự của cái tên đảo chính của Singapore trong tiếng Mã Lai – Pulau Ujong.

Với bằng chứng như vậy thì có thể thấy từ giai đoạn gần những năm đầu Công Nguyên, đảo Singapore thực sự đã có người sinh sống dù rằng những cư dân đảo tuy hậu thế không có bằng chứng là tộc nào cư trú song dựa theo ghi chép, đề cập tới các hoạt động của các tộc người Nam Dương ở Thời kỳ Khám Phá lúc người phương Tây bắt đầu tiến vào thuộc địa hoá dần Đông Nam Á thì có thể cho rằng 1 trong những cư dân gốc của đảo Singapore là dân Orang Laut vốn vì lối sống bất định trên vùng biển Nam Dương nên có thể ví von họ là Đông phương Hải Nhân tộc mà hiện tại là các nhóm người Orang Selatar ở Malaysia – Singapore cùng Moken tại Thái Lan với Myanmar.

Khi Đế quốc Srivijaya nổi lên ở cuối thế kỷ thứ 7 mà cụ thể là từ thời điểm khoảng năm 671 khi mà mốc thời gian năm 671 là năm mà nhà sư kiêm nhà lữ hành người Trung Hoa là Nghĩa Tịnh a.k.a Trương Văn Minh (635-713) bắt đầu bắt tàu vượt biển để tới Ấn Độ theo học giáo lý nhà Phật 1 cách chuyên sâu hơn vốn trên đường đi thì Nghĩa Tịnh đã từng xuống tàu nghỉ giữa chặng để học thêm giáo lý nhà Phật ở dọc hải trình tới Ấn Độ cầu pháp với nơi Nghĩa Tịnh tạm dừng chân lưu trú lại 6 tháng để học đạo được biết tới là Tam Phật Tề a.k.a Thất Lợi Phật Thệ – Đế quốc Srivijaya có trung tâm tại đảo Sumatra của Indonesia, đảo Singapore đã bị Đế quốc Srivijaya chinh phục và biến thành 1 trong các lãnh thổ của Srivijaya.

Sau hơn 350 năm xưng bá Nam Dương, Đế quốc Srivijaya không chỉ bị suy tàn bởi chính những quốc gia mới nổi ngay bên trong quần đảo Indonesia mà còn bị uy hiếp bởi hoạ ngoại xâm từ bên ngoài từ thế lực người Ấn Độ của Đế quốc Chola ở miền nam Ấn độ vốn cũng sở hữu thực lực hải quân không kém gì Srivijaya để rồi vào năm 1025, mối đe doạ ngoại xâm ấy đã thành hiện thực khi Hoàng đế Rajendra Đệ Nhất a.k.a Rajendra Vĩ Đại/Đại Đế, Kadaram Kondan, Gangaikondan Cholan (971-10440 đã bí mật dẫn hạm đội hùng mạnh của Chola bí mật tiến vào vùng biển Nam Dương rồi bất ngờ phát động cuộc tổng tập kích khắp 14 cảng thị nằm rải rác từ bán đảo Mã Lai qua quần đảo Indonesia mà đảo Singapore là 1 trong số những nơi như vậy của Đế quốc Srivijaya với kết quả là cuộc tổng tiến công Đế quốc Srivijaya do Rajendra Đại Đế của Đế quốc Chola phát động năm 1025 đã không chỉ bắt sống hoàng đế Sangrama Vijayatunggavarman triều Shailendra của Đế quốc Srivijaya mà còn phá huỷ cả Đế quốc Srivijaya 1 thời làm ngáo ộp tại biển Nam Trung Hoa.

Cuộc tổng tập kích khắp 14 cảng thị Đế quốc Srivijaya do Rajendra Đại Đế của Đế quốc Chola phát động năm 1025 đã không chỉ thành công mỹ mãn cho người Chola khi mà bản thân hoàng đế Sangrama Vijayatunggavarman triều Shailendra của Đế quốc Srivijaya thì bị bắt trong khi Đế quốc Srivijaya bị tiêu vong mà thông qua Cuộc tổng tập kích Đế quốc Srivijaya năm 1025, Đế quốc Chola đã tạm thời kiểm soát trong 1 thời gian ngắn các địa bàn cũ của Đế quốc Srivijaya gồm đảo Singapore.

Không rõ khi nào thì Singapore cùng quần đảo Mã Lai, bán đảo Mã Lai mới thoát được khỏi ảnh hưởng từ Đế quốc Chola của người Tamil ở miền nam Ấn Độ song quãng thời gian từ lúc này hay trước đó cho tới năm 1299 thì đây chính là thời điểm tồn tại của danh xưng Temasek (Hải Phố) a.k.a Negeri Selat (Quốc gia Eo Biển) vốn dù ghi chép của người Chola không có đề cập dòng nào tới vụ này nhưng mà Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu được soạn vào thế kỷ 17 thì có với việc trong Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu có ghi chép về truyện về Rajah Cholan của Đế quốc Chola của người Ấn Độ cùng Temasek và cái tên Temasek đã không chỉ được Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu dùng cho tới thời điểm Sư Tử Thành quốc Singapura được thành lập năm 1299 mà còn được những thư tịch ghi chép về sử địa của Trung Hoa tiếp tục dùng kể cả sau khi nhà nước Singapura đã xuất hiện tại đảo Singapore.

Sau 1 thời gian chỉ là 1 xứ sở ít được biết tới thì theo Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu là vào năm 1299, vương quốc Singapura Kerajaan Singapura đã được thành lập tại đảo chính Singapore.

Tuy là Biên niên sử Mã Lai không nói gì về việc có dân cư trên đảo Singapore lúc Sang Nila Utama lên đảo săn thú rồi bắt gặp 1 cách chớp nhoáng con gì đó có thể là/được cho là con sư tử song điều đó không có nghĩa là Temasek đã bị bỏ hoang hoàn toàn mà bằng chứng chứng minh cho sự kiện trước khi Sang Nila Utama lên đảo Temasek từng có người cư trú là việc người ta đã phát hiện 1 số hiện vật gồm cả đồng xu Trung Hoa có niên đại đầu thời Bắc Tống nửa sau thế kỷ thứ 10 và quan trọng hơn thì Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên có nói rõ tới 2 nơi cư trú trên đảo Singapore vào thế kỷ 14 với Ban Tốt tại đồi Pháo đài Canning là vị trí được cho là nơi ngự trị của thành Singapura do nhà Sang Nila Utama cai trị trong khi vị trí có người sống vào thế kỷ 14 còn lại tại đảo Singapore được nhà du hành Uông Đại Uyên nói tới chính Long Nha Môn Batu Berlayar.

Long Nha Môn Batu Berlayar mà Uông Đại Uyên nói tới cũng theo mô tả của Uông Đại Uyên là eo biển nhìn như răng rồng chạy giữa 2 ngọn đồi tại Temasek vốn sang thời Minh thì vị trí Long Nha Môn cũng được thể hiện bản đồ hàng hải biên soạn thời Minh là Mao Khôn đồ a.k.a Trịnh Hòa Hàng Hải đồ (bản đồ chuyến đi biển của Trịnh Hòa) được vẽ trong quyển thứ 240 bộ sách toàn thư cuốn về quân sự thời Minh là Vũ Bị chí a.k.a Vũ Bị Toàn thư do đại thần Mao Nguyên Nghi (1594-1640) biên soạn vào thời kỳ Minh mạt mà dựa theo việc thể hiện của địa điểm Long Nha Môn trên Mao Khôn đồ thì vị trí địa danh Long Nha Môn mà các nhà hàng hải Trung Hoa nói tới là đoạn eo biển Cảng Keppel a.k.a Kênh Keppel nằm giữa các đảo Sentosa a.k.a Pulau Blakang Mati, Pulau Brani ở ngoài khơi phía nam bờ biển đảo chính Singapore với Khu Dự trữ tự nhiên Labrador a.k.a Công viên Labrador rộng 10 hecta tại phía nam đảo chính Singapore khi mà tại đây thì ngày trước từng tồn tại giữa eo biển hẹp cột đá granite lởm chởm nhô cao lên khỏi mặt biển như răng nanh loài rồng vốn không chỉ 1 mà có tới 2 cột đá nhô cao giữa biển (Long Nha Môn) khi cột đá còn lại toạ lạc tại phía bờ đối diện Tanjong Rimau ở đảo Sentosa để rồi tới tháng 8 năm 1848, người Anh nhằm mở rộng lối eo biển ra vào cảng Singapore cho tàu thuyền đã cho nổ tung các cột đá Long Nha Môn.

Để kỷ niệm việc từng có 2 cột đá nhô lên khỏi mặt nước tại eo biển Cảng Keppel được thuỷ thủ quốc tế qua lại vùng nước này dùng làm mốc định vị thì vào năm 2005, 1 bản sao cao 6m cột đá Long Nha Môn đã được chính quyền Singapore cho dựng nên trong khuôn viên công viên Labrador ở gần nơi 2 cột đá nguyên gốc từng tồn tại.

Có thể Long Nha Môn Batu Berlayar mà Uông Đại Uyên nói tới trong Đảo Di Chí Lược mới chính là Temasek Hải Phố lừng danh trong thư tịch xưa do bởi cũng dựa theo ghi chép về Long Nha Môn trong Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên thì tộc tính người Long Nha Môn rất khác dân Ban Tốt (Singapura) ở chỗ nếu dân Ban Tốt được mô tả là làm nghề buôn bán thì dân Long Nha Môn theo mô tả là có hành cả nghề hải tặc với dân Orang Laut xưa cũng từng là hải tặc có tiếng ở vùng nước Mã Lai – Indonesia bên cạnh dân Bugis từ đảo Sulawesi của Indonesia và quan trọng hơn thế khi mà nhà cửa truyền thống lẫn to hơn là làng (kampung) dân Orang Laut được xây dựng ngay trên mặt nước dưới hình dạng là nhà sàn đứng trên các cọc gỗ nhô cao lên khỏi mặt nước do bởi lối sống không thể tách rời biển cả của người Orang Laut.

Từ những mảnh ghép trên thì có thể thấy được ngay cả khi nhà nước Singapura được thành lập trên đảo Singapore thì Temasek theo lý nào đó vẫn còn tồn tại song hành ở duyên hải đảo Singapore trong 1 thời gian cho tới khi Singapura trên đất liền tuy sau cùng bị tiêu vong bởi chiến tranh nhưng nó đã kịp lu mờ Temasek trên mặt nước vẫn còn tồn tại dai dẳng tận lúc người Anh chiếm hữu Singapore vào thế kỷ 19.

Trong quãng thời gian Long Nha Môn Temasek tồn tại song hành với Ban Tốt Singapura từ cuối thế kỷ 13 tới cuối thế kỷ 14 thì có 1 sự kiện quan hệ ngoại giao với Trung Hoa đáng chú ý chính là việc vào năm 1320, Nguyên đình từng cử sứ tới Long Nha Môn để mua voi đã được thuần hoá trước khi sang năm 1325 thì dân Long Nha Môn đã đem hàng hoá tới cống nạp cho Nguyên đình rồi nhân đó mà thiết lập quan hệ buôn bán, thương mại.

Sau khi Singapura bị Majapahit tiêu diệt năm 1398 buộc vua Parameswara phải chạy vào bán đảo Mã Lai rồi lập quốc gia mới ở Malacca tại bờ bắc Eo biển Malacca chỉ 2 năm sau đó là vào năm 1400 là Hồi quốc Malacca thì đảo Singapore cũ không chỉ trở thành bộ phận lãnh thổ của Hồi quốc Malacca mà người Orang Laut vẫn tiếp tục cư trú trên đảo Singapore hay nói cách khác thì Hải Phố Temasek lại được tái tục theo nghĩa nào đó vốn việc người Orang Laut tiếp tục cư trú tại Singapore như họ đã làm trước khi Sang Nila Utama lên đảo lập quốc đã được Tome Pires ghi lại trong Suma Oriental của mình.

Đảo Singapore dưới thời Hồi quốc Malacca đã trở thành thái ấp của Đại đô đốc Laksamana vốn người ta cho rằng từng có thời gian thì đảo Singapore là thái ấp thuộc sở hữu của người anh hùng Hang Tuah từng làm Đại đô đốc Laksamana thời cuối Malacca trong kho tàng văn học Mã Lai.

Việc đảo Singapore trở thành thái ấp Đại đô đốc Laksamana của Hồi quốc Malacca đã được xác thực vào thời điểm sau khi Malacca bị mất vào tay người Bồ Đào Nha vào năm 1511, Đại Đô đốc Laksamana của Malacca đã từng rút về đảo Singapore để tiếp tục chống nhau với người Bồ Đào Nha để rồi sau khi 1 trong 2 nhà nước kế tục Malacca là Hồi quốc Johor xuất hiện vào năm 1528 ở phần đất tận cùng đông nam của bán đảo Mã Lai, đảo Singapore đã trở thành 1 trung tâm thương mại của Hồi quốc Johor trong 1 thời gian như trước kia nó đã từng như vậy thời Singapura.

Tuy nhiên thì sự hồi sinh của đảo Singapore với vai trò 1 trung tâm thương mại dưới của Johor đã kết thúc 1 cách chóng vánh do bởi sau khi Johor liên kết với Hà Lan tiến hành chống lại Bồ Đào Nha vào năm 1603 và trong cuộc chiến này thì đảo Singapore đã lần nữa bị phá huỷ khi mà vào năm 1613, người Bồ Đào Nha đã kéo tới đốt trụi Singpore dẫn tới sau đó phần lớn Singapore bị bỏ hoang suốt hơn 200 năm cho tới khi Thomas Raffles tới đây khám phá vào tháng 1 năm 1819 vốn trong quãng thời gian bị quên lãng kéo dài hơn 200 năm này thì đảo Singapore không hẳn hoàn toàn bị bỏ hoang do bởi những cư dân bản địa đã sinh sống tại Singapore từ trước đó rất lâu, lâu hơn Singapura được thành lập là dân Orang Laut vẫn tiếp tục cư trú ở 1 phần của đảo trong ngôi làng được dựng nhô cao khỏi mặt nước bởi những cây cọc và bên cạnh dân Orang Laut vẫn tiếp tục ở lại đảo Singapore cho tới tận ngày nay khi họ bị xoá tên do bị Singapore liệt vào khối sắc tộc Mã Lai là 1 trong vài sắc tộc chính của Singapore, Hồi quốc Johor vẫn tiếp tục duy trì chủ quyền cai quản của mình với đảo Singapore thông qua vị Đại phán quan Temenggung cho tới khi người Anh đoạt lấy Singapore khỏi tay Johor vào đầu thế kỷ 19.

II. Văn vật

Trong số các thư tịch chính sử Trung Hoa còn hiện hữu lẫn có thể tiếp cận thời hiện đại thì trừ Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên là có ghi rõ tới 2 chính thể Long Nha Môn (Temasek cũ) – Ban Tốt (Singapura được thành lập muộn hơn) tồn tại trên đảo quốc Singapore thì không chắc các thư tịch chính sử khác còn tồn tại đến ngày nay của Trung Hoa có ghi chép rõ ràng về Singapore thời kỳ tiền thế kỷ 14 khi Long Nha Môn cùng Ban Tốt được Uông Đại Uyên nhắc tên.

Mặc dù khó để nhận dạng tên các nước được phiên âm từ tên bản ngữ sang tên tiếng Hoa được ghi trong chính sử Trung Hoa song dựa vào việc cách phát âm gần tương tự của tên nước được ghi trong chính sử cũng như là tên các nước lân bang quanh nó được nhắc tới thì có thể cho rằng cái tên Temasek đã từng được nhắc tới trong các bộ sử Tân Đường Thư do đại thần nhà Bắc Tống hơn 100 năm sau đó kiêm sử gia Trung Hoa thời Trung đại là Âu Dương Tu/Vĩnh Thúc (1 tháng 8 năm 1007-22 tháng 9 năm 1072) chủ biên từ năm 1044 tới năm 1054 cũng như Đường Hội Yếu do đại thần Vương Phổ/Tề Vật (922-982) biên soạn vào năm 961 dưới tên gọi là nước Đa Ma Trường.

Tuy là Đường Hội Yếu được biên soạn sớm hơn chỉ vỏn vẹn đề cập tới vị trí của Đa Ma Trường là nằm trên đảo giữa Nam Hải (biển Nam Trung Hoa) song Tân Đường thư của Âu Dương Tulại đề cập cụ thể tới 1 số hàng xóm các phương của nó với tên 1 số hàng xóm dù có hơi khác với tên của nó được ghi chép trong chính sử Trung Hoa giai đoạn trước/sau đó song cũng dựa vào việc phát âm gần tương tự thì chúng ta có thể loại suy ra được thông tin 1 cách tương đối chính xác.

Đa Ma Trường theo Tân Đường thư của Âu Dương Tu thì có hàng xóm các bên gồm Bà Phụng ở phía đông (nước được ghi trong chính sử Trung Hoa qua các thời có tên bắt đầu bằng chữ Bà nhiều lần nhất thì có thể kể đến Bà Lợi vốn về sau thì còn được gọi bằng tên Bột Nê mà nay chính là quốc gia Brunei của Đông Nam Á), Ha Lăng về phía bắc (dựa theo cách đọc thì có thể suy đoán tên gọi thời sau trong thư tịch sử Trung Hoa là nước Bành Hưởng và cái tên này được người Trung Hoa thời đó dùng gọi bang Pahang của Malaysia khi mà Pahang trong tiếng Mã Lai có liên quan tới vàng vốn 1 vài ghi chép phương Tây cũng xác nhận Pahang xưa có khai thác vàng), Đa Long ở phía tây (Đa Long có thể là biến âm tiếng Hoa của chữ Johor trong tên bang Johor của Mã Lai nằm cách đảo Singapore qua eo biển hẹp) cùng Thiên Phất Chi về phía nam (có thể là Srivijaya ở đảo Sumatra mà chính sử Trung Hoa gọi bằng tên phổ biến hơn là Thất Lợi Phật Thệ).

Lãnh thổ Đa Ma Trường theo Tân Đường thư của Âu Dương Tu là đi từ biên giới phía đông tới biên giới phía tây thì mất 1 tháng trong khi lộ trình từ biên giới phía bắc xuống biên giới phía nam chỉ là 25 ngày vốn nhìn bản đồ đảo Singapore ngày nay thì ta cũng có thể thấy được lãnh thổ Singapore có chiều đông tây chênh lệch nhiều hơn so với chiều nam – bắc.

Ăn tiền nhất thì là 1 đoạn ngắn tại truyện về Đa Ma Trường trong phần Nam Man truyện ở Tân Đường thư của Âu Dương Tu vốn ở đoạn ngắn nói về giao thông Đa Ma Trường quốc thì Âu Dương Tu cùng những người biên tập có nói rõ rằng từ Đa Ma Trường thì người ta có thể tới các nước khác trong khu vực gồm Tát Lư, Đô Na Quân, Lâm Ấp hay thậm chí là tận cả Giao Châu với 2 nước sau đều nằm trên lãnh thổ Việt Nam tính từ Bắc Trung Bộ trở ra và đối chiếu với vị trí địa lý Singapore hiện tại thì yếu tố quyết định đến sự giàu có của Singapore ngày nay chính là giao thông từ bắc biển Nam Dương như Hoa Nam, Việt Nam, Thái Lan…xuống Singapore đều rất tiện lợi khi có thể dễ dàng từ các nơi trên tới Singapore chỉ bằng duy nhất là đường biển.

Cũng vì giao thông thuận lợi nên Ta Ma Trường đã sớm thiết lập quan hệ với Trung Hoa thời Đường vốn theo ghi chép của Đường Hội Yếu thì tháng 2 năm Hiển Khánh thứ 4 với Hiển Khánh là niên hiệu mà Cao Tông (15 tháng 7 năm 649-27 tháng 12 năm 683) đế Lý Trị (21 tháng 7 năm 628-27 tháng 12 năm 683) của nhà Đường dùng từ năm 656 tới tháng 2 Âm lịch năm 661 (tức là vào khoảng năm 659), Ta Ma Trường đã cử sứ tới triều cống.

Nếu Ta Ma Trường chính xác là Temasek thì dựa vào việc từng cử sứ tới triều cống nhà Đường năm 659, ta có thể nói là Temasek từng có nền độc lập, chủ quyền riêng trước khi nó bị Đế quốc Srivijaya nổi lên từ khoảng năm 671 khuất phục.

Tân Đường thư của Âu Dương Tu bên cạnh đó cũng cung cấp 1 chút manh mối về văn vật nước Ta Ma Trường là sản vật thì Đa Ma trường sở hữu các loại quả như ba na bà (có thể là ba la mật về sau a.k.a mít song theo mô tả trong có nhiều quả nhỏ lẫn khi chín có màu vàng thì nhiều khả năng nhất là sầu riêng), trạch hộ già am ma, thạch lựu (lựu)

Âu Dương Tu có nói là do người nước này không sở hữu họ gia đình nên việc cưới xin người ta không có vụ phân biệt chuyện có cùng họ tộc hay không giữa lúc vua Đa Ma Trường cũng theo ghi chép thì ngồi chầu quay mặt về phía đông.

Thực lực của nước Ta Ma Trường theo Tân Đường thư của Âu Dương Tu là sở hữu 20,000 quân trường trực trang bị đủ cả cung, đao, giáo với áo giáp song nhược điểm là họ không có ngựa.

Từ chỗ là quốc gia bộ lạc sở hữu quân đội mạnh cũng như có từng triều cống nhà Đường thì có vẻ cùng với việc bị Srivijaya xâm lược rồi thoát ly khỏi Srivijaya sau vài thế kỷ bị đô hộ lân trong hoàn cảnh bản thân cũng bị quân Chola tấn công nên xã hội Temasek về sau có phần suy thoái để rồi khi Uông Đại Uyên chu du tới Long Nha Môn vốn là tàn dư của Temasek/Temasek giai đoạn suy tàn thì mọi thứ gồm cả văn vật đều có vẻ khác trước do bởi dân Temasek tại Long Nha Môn thế kỷ thứ 14 còn không ngại hoạt động cướp bóc các tàu buôn trên biển ở quy mô hạm đội nhiều tàu.

Theo mô tả của Uông Đại Uyên thì Long Nha Môn là chỗ đường nước nằm giữa chỗ giao giống như răng rồng của 2 ngọn núi ở Temasek (eo biển) với khí hậu nóng cùng quãng thời gian 4-5 tháng có mưa dầm.

Có lẽ cũng vì nằm tại khu vực eo biển nơi nước mặn hiện diện nên cũng theo Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên thì ruộng ở Long Nha Môn thì xấu dẫn đến lúa gạo canh tác chỉ thu được ít ỏi giữa lúc sản vật khai thác từ đất chỉ có giáng chân hương loại thô cùng thiếc dạng đấu.

Mặc dù ít sản vật khai thác từ đất song dân Long Nha Môn vẫn có tiến hành buôn bán với các mặt hàng được họ tiến hành buôn bán trao đổi gồm xích kim/kim loại đỏ (kim loại dạng thuần chất mà đặc biệt là đồng vốn quan thời Nam Bắc triều là Giang Yểm/Văn Thông (444-505) trong bài thơ ca ngợi kiếm đồng là Đồng Kiếm Tán có nói Hắc kim – kim loại đen là sắt, xích kim – kim loại đỏ là đồng còn hoàng kim – kim loại màu vàng là vàng), vải xanh dệt từ tơ (thanh đoạn), vải hoa văn (hoa bố), đồ gốm (xử từ khí), vạc sắt (thiết đỉnh).

Cá biệt thì theo ghi chép chính sử, Long Nha Môn từng có thể buôn bán cả 1 mặt hàng hiếm hơn tới mức Uông Đại Uyên bỏ sót là voi đã thuần hoá khi mà vào năm 1320, Nguyên đình từng cử sứ tới Long Nha Môn để mua voi đã được thuần hoá trước khi sang năm 1325 thì dân Long Nha Môn đã đem hàng hoá tới cống nạp cho Nguyên đình rồi tiện tay thiết lập quan hệ thương mại.

Tuy nhiên thì theo đánh giá của Uông Đại Uyên thì tựu chung hàng hoá Long Nha Môn núi không sản xuất vật liệu đẹp, cống vật thì hàng hoá bình thường không có gì lạ lẫm giữa lúc những hàng hoá Long Nha Môn được mang tới bán tại Tuyền Châu ở Phúc Kiến thuộc Trung Hoa Đại Lục đều là đồ do ăn cướp mà có.

Vì bởi đất xấu, lúa ít, hàng hoá tầm thường, sản vật thô kệch nên không khó hiểu lắm là tộc tính dân Long Nha Môn theo Uông Đại Uyên đề cập trong Đảo Di Chí Lược là tục thích cướp bóc giữa lúc thành phần, diện mạo dân Long Nha Môn theo Uông Đại Uyên mô tả là nam nữ dân Long Nha Môn sống lẫn cùng người Hoa với diện mạo họ là đầu để nhiều búi tóc hình cái vồ, trên người mặc áo bông ngắn, buộc lướt qua bằng vải bông xanh.

Cướp bóc trên biển là 1 trong hoạt động nổi tiếng của người Orang Laut ở Malaysia với Singapore ngày trước bên cạnh dân Bugis ở Indonesia nên dân cư bản địa Long Nha Môn là dân thuộc tộc Orang Laut là điều khá chắn chắn vốn trong Suma Oriental, Tome Pires cũng xác nhận khi Parameswara làm vua ở Singapura thì người Cellate (tên người phương Tây dùng gọi dân Orang Laut) tới sống tại các đảo Karimun cách đảo Singapore từ 35 tới 37 cây số tuỳ theo đảo Karimun Nhỏ hay Karimun Lớn và cũng vì vậy nên khu vực quanh các đảo Karimun hay xảy ra cảnh cướp bóc tới mức Uông Đại Uyên trong Đảo Di Chí Lược cũng phải nhắc nhở là thuyền buôn về tới Cát Lợi Môn là vùng nước hẹp giữa 2 đảo Karimun thì trên tàu phải chuẩn bị phòng ngự vì chắc chắn là người long Nha Môn sẽ cho thuyền ra cướp bóc.

Ngay cả sau khi Singapura diệt vong và thay thế cho nó là Malacca thì theo mô tả của Tome Pires, đảo Singapore dù thuộc sở hữu của Malacca song vẫn là nơi cư trú của người Orang Laut với dân số trên đảo là vài làng – điều kiện đủ để sau khi Malacca bị mất vào tay người Bồ Đào Nha thì đảo Singapore trong 1 thời gian ngắn quay về lại với vai trò trung tâm thương mại hàng hải của mình.

Để xác định lịch pháp thì vào ngày đầu tiên của năm, người Long Nha Môn lấy việc xem trăng để định giờ khắc (chánh sơ) vốn cũng vào ngày này thì tù trưởng Long Nha Môn đội mũ quan, mặc triều phục chỉnh chu rồi đón nhận lời chúc tụng của mọi người.

Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên dù có nói tù trưởng Long Nha Môn đào đất tìm được chiếc mũ ngọc vốn có thể là mũ của quân chủ thế hệ trước chôn xuống cất giấu như vua Đa Ma Trường khi Temasek bị đảo này bị Srivijaya khuất phục song không nói rõ là thủ lĩnh Long Nha Môn có đội nó khi nhận lời chúc tụng ngày đầu năm của người dân hay không.

Về đánh nhau thì dân Long Nha Môn quen hành nghề cướp bóc trên biển ở mức hạm đội đông đảo vốn Uông Đại Uyên trong Đảo Di Chí Lược có nói thuyền buôn chở hàng tới Tây dương lúc đi không nói gì nhưng đường về thì lúc về tới Cát Lợi Môn – vùng nước rộng 800m giữa 2 đảo Karimun (Pulau Karimun) thuộc Quần đảo Riau của Sngapore gồm đảo Karimun Lớn a.k.a Nuwi nằm trong quần đảo Riau của Indonesia cũng như cách đảo Singapore khoảng 37 cây số về phía tây nam cùng đảo Karimun Nhỏ a.k.a Pulau Nonet nằm về phía đông – bắc đảo Karimun Lớn cũng như cách Singapore 35 cây số về phía tây nam thì phải chuẩn bị sẵn sàng giá đựng nhiều tên, trương màn vải bố lẫn sắp sẵn vũ khí sắc bén do bởi lý do đơn giản là hải tặc Long Nha Môn.

Uông Đại Uyên trong Đảo Di Chí Lược còn bổ sung thêm là việc chuẩn bị phòng thủ tàu khi về tới vùng nước hẹp giữa các đảo Karimun Lớn – Nhỏ không hề thừa do bởi người Long Nha Môn sẽ cho hạm đội đông tới 200-300 tàu ra chặn đường cướp bóc và địch không ngại đánh nhau cả mấy ngày nên nếu may mắn thuận gió thì tàu buôn sẽ thoát còn không thì việc người trên tàu bị giết chết nhanh gọn trong khi hàng hoá bị cướp bóc là chuyện không lạ ở đây vốn cũng vì vậy mà hàng Long Nha Môn tới Tuyền Châu mới bị dán nhãn là hàng có từ hoạt động cướp bóc trên biển.

Tome Pires trong Suma Oriental cũng đề cập sơ nét đến hoạt động hải tặc của người Orang Laut là khi đánh nhau trên biển, người Orang Laut không chỉ cưỡi thuyền nhỏ – nhẹ mà còn dùng vũ khí ống xì đồng để phóng những phi tiêu tẩm chất độc từ cây hoa hồng tuyết thuộc họ Mao Lương vốn chỉ cần trúng cơ thể là chỉ có chết và đấy cũng là sự lý giải cho việc Uông Đại Uyên khuyên là phải trương màn vải bố dày lẫn chuẩn bị cung tên khi về tới vùng nước gần đảo Singapore của dân Orang Laut.

B. Kerajaan Singapure (Sư Tử Thành Bang)

I. Lịch sử

Lịch sử vương quốc Singapura tới giờ vẫn còn gây tranh cãi trong giới sử gia khi mà không phải vì vấn đề có hay không có tồn tại vương quốc Singapura mà dựa theo hoạt động buôn bán của nó cũng như câu chuyện về sự sụp đổ của Singapura lẫn sự trỗi dậy của Hồi quốc Malacca được ghi chép trong Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu lẫn ghi chép của người Trung Hoa cùng thời thì sự tồn tại của thực thể Vương quốc Singapura không chỉ có tồn tại trong lịch sử mà dựa theo 1 số bằng chứng khảo cổ thì vị trí của thành bang Singapura được cho là tại Đồi Pháo đài Canning a.k.a Đồi Chính phủ, Đồi Singapore, Bukit Larangan, Pháo đài Canning cao 48m nằm tại phía đông nam đảo Singapore trong khu vực Trung Tâm a.k.a Khu vực Đô thị là khu trung tâm thương mại chính của Singapore vốn nằm 2 bên bờ Hồ chứa nước Marina.

Bằng chứng khảo cổ chứng minh cho sự tồn tại của thành bang Singapura tại vị trí Đồi Pháo đài Canning vốn đây cũng có thể là nơi toạ lạc của 1 quốc gia có tên là Ban Tốt được đề cập trong tác phẩm Đảo Di Chí Lược bởi thương gia kiêm nhà viễn hành Uông Đại Uyên sống thời cuối Nguyên từng 2 lần xuất dương vào các năm 1330, 1337 với điểm xa nhất trong các chuyến viễn dương mà Uông Đại Uyên từng tới cũng gần tương tự hạm đội Trịnh Hoà là châu Phi chỉ khác mỗi địa điểm do chỗ Uông Đại Uyên xa nhất từng tới là Đặc Phiên Lý tại Ai Cập (nay là tỉnh Damietta ở đồng bằng châu thổ sông Nile) chính là việc vào năm 1928 thì trong lúc công trình Hồ chứa nước Đồi Pháo đài Canning được thi công thì người ta đã đào trúng 1 chỗ giấu của cải của người xưa với các hiện vật được đào lên tại chỗ giấu đồ này chính là các đồ trang sức bằng vàng được chế tác theo phong cách người Java có niên đại từ tận giữa thế kỷ 14 – thời điểm Vương quốc Singapura đang tồn tại.

Đồ trang sức bằng vàng phong cách Java niên đại giữa thế kỷ 14 không phải là bằng chứng duy nhất về sự tồn tại của các vương quốc Temasek – Singapura trong lịch sử Singapore được tìm thấy tại khu vực Đồi Pháo đài Canning khi mà tận tới thế kỷ 19, các phế tích của 1 khu định cư vững chắc phục vụ cho mục đích giao thương vẫn còn được nhìn thấy 1 cách lộ thiên tại Singapore và điều này đã được xác thực và mô tả bởi Đệ Nhị Công sứ của Singapore – người được bổ nhiệm bởi chính cha đẻ Stamford Raffles của Singapore hiện đại là sử gia, nhà dân tộc học, nhà Đông Phương học, nhà vật lý kiêm nhà ngoại giao, nhà quản lý thuộc địa người Scotland John Crawfurd (13 tháng 8 năm 1783-11 tháng 5 năm 1868).

John Crawfurd không chỉ nói rằng mình đã thấy 1 cái nền đất đắp cao rộng 12 mét vuông gần đỉnh của khu vực Đồi Pháo đài Canning cũng như 1 cái nền khác gần như lớn bằng bệ đất kia ở sườn bắc Đồi Pháo đài Canning được dân bản địa cho là nơi chôn cất cựu vương Parameswara của Singapura dù rằng ở đó không có tý dấu vết nào của việc mai tang mà còn tìm thấy được vài hiện vật khác chứng tỏ sự tồn tại của 1 thành bang giao dịch có quy mô không nhỏ trong khu vực gồm phế tích vườn cây ăn quả, phế tích bức tường rộng 5m lẫn cao 3m, các mảnh gốm cùng các đồng tiền xu Trung Hoa với hiện vật có niên đại sớm nhất là từ thế kỷ thứ 10 vào đời nhà Tống (ít nhất là nửa sau thế kỷ thứ 10 trở đi).

Các hiện vật được tìm thấy trên cho thấy về sự tồn tại của các quốc gia Temasek, Singapura tại khu vực đông nam đảo chính Singapura.

Nếu các bằng chứng trên chưa đủ cho sự tồn tại của 1 vương quốc Singapura giàu có thịnh trị thì trong Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu có ghi chép truyền thuyết về lực sỹ Badang mà theo đó Badang có gốc là người Mã Lai đến từ khu vực thuộc quận Batu Pahat thuộc bang Johor của Malaysia ngày nay để rồi vì phận con nhà nông dân nghèo nên sau đó Badang đã phải bán mình đi làm nô lệ cho 1 người giàu tại acejh thuộc đảo Sumatra của Indonesia song vì nô lệ không được trả lương mà chỉ được ăn cơm với bữa cơm của Badang thì ít ỏi trong khi bản thân Badang thì người nhỏ, sức yếu mà công việc lại nặng nên để có sức làm việc, Badang phải ra song bẫy cá để cải thiện bữa ăn.

1 ngày nọ, Badang ra con sông để bẫy cá chỉ để tới khi thu bẫy thì phát hiện bẫy của mình chỉ có đầy xương với vảy cá bên trong và do việc đó diễn ra tới vài ngày buộc Badang phải cầm gậy nhảy vô lùm cây lén theo dõi đứa bất lương nào chơi ác với mình để tẩn cho 1 trận nhớ đời.

Thủ phạm sau cùng cũng bị bắt song đó không phải là người nào mà là con quỷ có ngoại hình mắt đỏ như lửa, tóc dài xỉn màu cùng râu dài tới nực hay tận eo với quyền năng là có thể biến hình thành bất kỳ con vật, cây cỏ nào sống quanh song gọi là Jembalang Airlhantu Air (Thuỷ Linh).

Quỷ Thuỷ Linh Jembalang Airlhantu Air quen thói ăn trộm cá bị Badang bắt được tại trận đã van nài Badang tha mạng với đề nghị là nó sẽ ban cho 1 điều ước để đổi lấy việc được thả và Badang nhận lời với yêu cầu là ước được làm việc mà không biết mệt.

Lời ước của Badang hơi khó thực hiện song không phải không xảy ra khi mà theo lời quỷ Thuỷ Linh dặn, Badang đã nuốt vào bụng thứ mà quỷ nôn ra – theo truyền thuyếtlà 2 viên ngọc màu đỏ geliga và nuốt xong thứ quỷ khạc nhổ ra, Badang đã trở nên khoẻ mạnh tới mức có thể chuộc lại sự tự do cho chính mình để rồi với sức mạnh có được từ sự giúp đỡ của quỷ Thuỷ Linh, Badang đã đi giúp đời và việc này đã sớm tới tay vua Singapura- người sau đó đã không chỉ cho mời Badang tới Singapura mà còn ban cho Bandang vương hiệu Raden.

Badang đã lập nhiều kỳ công cho vua Singapura vốn qua đó thì truyền kỳ về Badang cũng lan xa hơn để rồi sau cùng thì nó cũng tới tai vua nước Kalinga ở Ấn Độ mà sau khi hay tin, vua Kalinga đã cho nhà vô địch khoẻ nhất nước mình là Nadi Bijaya tới Singapura để so tài với Badang.

2 lực sỹ của 2 nước dù đã đấu qua nhiều vòng thử thách gồm cả đấu vật song do kết quả đều ngang sức nên để phân cao thấp trận cuối, Nadi Bijaya đã đề nghị ai có thể nâng nổi tảng đá siêu khổng lồ trước cung vua Singapura thì sẽ trở thành người chiến thắng.

Nadi Bijaya chỉ có thể dồn hết sức nâng được tảng đá cao tới mắt cá chân rồi buông xuống ngay trong khi Badang thì không chỉ cử đá lên quá đầu mà còn nhẹ nhàng ném vèo tảng đá ra tận cửa sông Singapore nên sau cùng Nadi Bijaya đã không chỉ công nhận Badang khoẻ hơn mình mà còn tặng nhiều quà trước khi về lại Ấn Độ.

Badang sau đó đã tiếp tục sống và giúp Singapura cho tới khi qua đời vốn khi hay tin Badang qua đời, vua Kalinga đã gửi 2 cột đá tới dựng tại mộ của badang ở đảo Buru thuộc quần đảo Riau của Indonesia.

Câu chuyện thi nâng đá của Badang với Nadi Bijaya vẫn sẽ là câu chuyện truyền thuyết dỗ dành trẻ con của người Mã Lai nếu không phải tới tháng 6 năm 1819, người ta trong lúc phát quang rừng đã tìm thấy 1 tảng đá sa thạch cao 3m, dài 2.7 tới 3m nằm ở mũi đất Rocky mà về sau là mũi Pháo Binh ở phía đông nam cửa sông Singapore (tảng đá Singapore) vốn nó không chỉ chứng minh được phần nào tính thực tế về truyền thuyết cử đá của Badang thời Singapura mà đáng chú ý hơn khi mà trên thân tảng đá sa thạch đó còn được khắc 50-52 dòng văn tự cổ loại Cổ ngữ Java hay thậm chí là Phạn ngữ niên đại ít nhất là thế kỷ 13 hay thậm chí sớm hơn mà tới nay vẫn chưa ai giải mã được bí ẩn dòng văn tự bi ký đó

Mặc cho có nhiều người đã nỗ lực giải mã nội dung chữ khắc trên tảng đá Singapore gồm cả chính Stamford Raffles, Bác sỹ kiêm nhân vật công chúng của thuộc địa New South Wales là William Bland (5 tháng 11 năm 1789-21 tháng 7 năm 1868), Đại uý pháo binh Madras của Công ty Đông Ấn Anh kiêm tác gia quyển Bán đảo Mã Lai năm 1834 là Peter James Begbie (1804-1864); thương nhân kiêm người sưu tập tiền, nhà Đông Phương học người Scotland là John Watson Laidlay (27 tháng 3 năm 1808- 8 tháng 3 năm 1885), nhà ngôn ngữ học kiêm Đông Phương học người Hà Lan là Johan Hendrik Caspar Kern (6 tháng 4 năm 1833-4 tháng7 năm 1917)…song không những nội dung tảng đá chưa được giải nghĩa hết hoàn toàn mà còn nhằm để mở rộng lối ra vào cửa sông Singapore nhằm lấy chỗ mở rộng pháo đài Fullerton mà nay là Khách sạn Fullerton cũng như khu cư trú cho chỉ huy nên dù có được 1 số người xin giữ, bi ký sa thạch Tảng đá Singapore sau cùng vẫn bị người Anh cho nổ tung vào khoảng tháng 1 năm 1843 vốn chỉ bộ phận chữ khắc dễ đọc nhất trên Tảng đá Singapore đã được người từng bất thành trong việc xin giữ lại Tảng đá Singapore để nghiên cứu là Sỹ quan người Scotland của quân đội Công ty Đông Ấn Anh kiêm người có nhiều tác phẩm nghiên cứu về tiếng thái cùng ngôn ngữ, văn hoá Mã Lai là James Low (1791-1852) nhặt nhạnh gửi tới lưu trữ ở bảo tàng nằm tại Calcutta thuộc Ấn Độ của Hội Hoàng gia về Á Châu của Anh và Ireland a.k.a Hội Hoàng gia Á Châu là hội chuyên nghiên cứu về văn hoá, xã hội các quốc gia châu Á được lập ngày 15 tháng 3 năm 1823 bởi nhà Đông Phương học, nhà toán học Henry Thomas Colebrooke (15 tháng 6 năm 1765-10 tháng 3 năm 1837).

Dù Tảng đá sa thạch Singapore là minh chứng cho việc truyền thuyết Badang cùng nhà nước Singapura tồn tại đã bị phá huỷ song theo suy luận của 1 người từng nghiên cứu Tảng đá Singapore trước khi người Anh phá huỷ nó là Peter James Begbie vốn điều này cũng được chính Peter James Begbie ghi trong tác phẩm Bán đảo Mã Lai viết năm 1834 của mình là không chỉ văn tự trên Tảng đá Singapore là 1 kiểu chữ thất truyền của người Tamil mà nội dung bi ký sa thạch trên Tảng đá Singapore là ôn lại về những kỳ công của đại lực sỹ Badang thời Singapura và vì những bằng chứng như vậy nên sự tồn tại của nhà nước Singapura tại đảo Singapore là 1 điều chắc chắn.

Theo ghi chép của Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu thì vào năm 1299, 1 hoàng tử của Palembang đang làm rể ở đảo Bintan thuộc quần đảo Riau của Indonesia ở gần đó là Sang Nila Utama đã cùng tuỳ tùng của mình chèo thuyền tới đảo Singapore sau khi phát hiện ra đảo này trong lúc đang đi săn trên đảo Bintan để rồi sau khi cập bến Singapore, Sang Nila Utama đã nhìn thấy con vật được cho là sư tử trước khi lập nên Singapura rồi truyền lại cho con cháu xuống tận hậu duệ Parameswara giữa lúc theo Ghi chép về phương Đông từ Biển Đỏ tới Trung Hoa Suma Oriental Que Trata Do Mar Roxo Ate Aos Chins a.k.a Suma Oriental của 1 người bào chế thuốc kiêm nhà quả lý thuộc địa, nhà ngoài giao từng được chính quyền Bồ Đào Nha cử tới Malacca sau khi nơi này bị người Bồ chiếm năm 1511 là Tomé Pires (khoảng 1468-khoảng 1524/1540) thì vua khai quốc Singapura với vua cuối cùng của Singapura là cùng 1 người khi đều là Parameswara vốn Suma Oriental cũng không nhắc tới việc Temasek thành lập thế nào mà chỉ nói là vào lúc Parameswara tới Temasek thì nơi này đã có thủ lĩnh cai trị dưới thân phận là chư hầu của Xiêm/Majapahit và Parameswara sau khi tới làm khách tại đây đã ám sát thủ lĩnh Temasek rồi tự lập làm vua Singapura trong vài năm trước khi bị tôn chủ của thủ lĩnh kia đem quân tới diệt quốc buộc Parameswara phải chạy đi tới bán đảo Maalcca lập ra Hồi quốc Malacca.

Các nguồn sử liệu bất đồng nhau độ hợp pháp của nhà nước Singapura lúc nó hình thành cũng như việc bị nó bị tiêu diệt ra sao lẫn bởi ai song có 1 thứ mà các nguồn sử liệu cả của các sử gia phương Tây như Tome Pires lẫn phương Đông như Tun Sri Lanang đều nhất trí là thân thế của Parameswara cùng các tiên quân Singapura thuộc dòng dõi nhà mình nếu có, đều có gốc từ Palembang vốn hơn mấy thế kỷ trước là vùng lõi của Đế quốc Srivijaya từng 1 thời xưng bá Đông Nam Á.

Mặc dù sau khi bị hải quân Chola đến từ Ấn Độ tấn công vào năm 1025 thì Đế quốc Srivijaya đã bị sụp đổ để rồi từ đống tro tàn của Srivijaya thì tại đảo Sumatra, vương quốc Melayu a.k.a vương quốc Jambi từng xuất hiện chung thời điểm với Srivijaya song nhanh chóng bị Srivijaya thôn tính chỉ vài chục năm sau đó đã lần nữa trỗi dậy.

Tuy nhiên thì cùng hưởng lợi từ sự sụp đổ của Srivijaya thì còn có dân đảo chính Java của Indonesia khi mà thông qua sự sụp đổ của Srivijaya sau khi bị quân Chola tổng tấn công, các tộc người đảo Java đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để không chỉ giành độc lập cho đảo mình mà còn nhân đó thì thành lập các quốc gia riêng trên đảo để cạnh tranh với đảo Sumatra vốn vì không muốn lần nữa chứng kiến người đảo Sumatra xác lập bá quyền quần đảo Nam Dương nên từ sau khi người Java thành lập nên Đế quốc Majapahit của mình tại miền đông đảo Java vào năm 1293 sau khi đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông ra khỏi đảo, Đế quốc Majapahit đã không ít lần nhòm ngó vương quốc Melayu ở Sumatra để rồi vào giữa thế kỷ 14 – năm 1347, quân Java đã đổ bộ lên đảo Sumatra để hiện thực hoá giấc mộng xác lập bá quyền toàn Indonesia của họ.

Theo Suma Oriental của Tome Pires thì sự diệt vong vương quốc Jambi của người Sumatra vào tay người Java Đế quốc Majapahit chính là nguồn cơ đẩy hoàng tử đảo Sumatra là Parameswara chạy khỏi Palembang ở trên đảo để sang Temasek đoạt vị rồi lập nên nhà nước Singapura vào khoảng thập niên 1390 tức là phải vài chục năm sau khi người Java bình định xong hoàn toàn đảo Sumatra.

Câu chuyện về sự hưng vong của nhà nước Singapura theo Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu thì khác khi mà không chỉ theo Biên niên sử, Singapura được thành lập sớm hơn là vào năm 1299 của thế kỷ 13 vốn chỉ 6 năm sau khi Đế quốc Majapahit được thành lập ở đảo Java mà cách thức lập quốc Singapura cũng yên bình, hợp pháp hơn cũng như là người lập quốc Singapura cũng khác hơn.

Theo Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu, vua Sang Nila Utama a.k.a Sri Tri Buana lập quốc Singapura tuy cũng là hoàng tử đảo Java từ Palembang song thân thế Sang Nila Utama lại có phần Thiên mệnh khi mà là con trai của vị vua truyền thuyết Sang Sapurba với con gái của thủ lĩnh Demang Lebar Daun của Palembang sau khi thủ lĩnh Palembang chủ động quy phục trước uy quyền của Sang Sapurba.

Tới lượt mình thì Sang Sapurba theo truyền thuyết ghi chép Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu là vua từ 1 nơi khác tới Sumatra mà kể chính xác theo truyền thuyết thì trong 1 đêm tối tăm, 2 người phụ nữ sống trên ngọn đồi Seguntang a.k.a Bukit Seguntang cao 29-30m tại phía bắc sông Musi lẫn cách sông 3 cây số cũng như trong khu vực phụ cận thành phố Palembang lẫn cách thành phố khoảng 4 cây số về phía tây nam đã thấy Sang Sapurba xuất hiện trên đồi sau khi 1 luồng sáng vĩ đại từ trên trời chiếu xuống mặt đất vốn cùng xuất hiện trên đồi Seguntang chung với Sang Sapurba là các anh em trai của Sang Sapurba gồm Bichitram cùng Paladutani dan Nilatanam theo phiên bản truyền thuyết ghi chép bởi nhà Đông phương học kiêm nhà quản lý thuộc địa R.O.Winstedt a.k.a Richard Olaf Winstedt (2 tháng 8 năm 1878-2 tháng 6 năm 1966) trong khi theo bản ghi chép của tác gia, dịch giả kiêm nhà giáo dục người Mã Lai về Sơ kỳ lịch sử Mã Lai là Abdullah bin Abdul al Kadir a.k.a Munshi (từ Ba Tư dùng gọi người trong ngành nghề có liên quan tới chữ viết, học thuật như thư ký, nhà giáo…) Abdullah (1796-1854) thì là Bichitram Syah cùng Nila Pahlawan dan Kama Pandita với Sang Sapurba không chỉ là huynh trưởng mà còn ăn mặc như vua cũng như cưỡi trên 1 con trâu/bò màu trắng bạc giữa lúc 2 em trai Sang Sapurba thì mang kiếm, thương, ấn biểu trưng vương quyền cho anh cả.

2 người phụ nữ sống trên đồi Seguntang sau khi thấy 3 anh em Sang Sapurba giáng hạ xuống đồi sau 1 luồng sáng chói loà giữa đêm tối khiến cho cây lúa trong ruộng họ ở trên đồi hạt thì biến thành vàng, lá thành bạc còn thân/cuống thì trở thành đồng ánh kim đã kinh ngạc tới hỏi thân thế của 3 anh Sang Sapurba vốn khi được hỏi Sang Sapurba đã đáp lời rằng mình không phải thần linh hay quỷ dữ mà chỉ là phàm nhân nhưng cũng là hoàng tử mà quan trọng hơn cả thì Sang Sapurba còn nhận mình là hoàng tử dòng dõi Alexander Đại Đế của Macedonia nổi danh đang tìm kiếm phần đất họ được cho thừa hưởng nơi trần thế.

Trước sự giáng hạ khác người của Sang Sapurba cùng anh em, thủ lĩnh Demang Lebar Daun của Palembang đã không chỉ gả con gái lẫn chủ động quy phục Sang Sapurba mà còn lập giao ước với Sang Sapurba rằng vì mình đã chủ động quy phục nên xin hậu duệ Sang Sapurba đối xử tử tế với hậu duệ mình, ngay cả khi họ có phạm tội cấp làng nhàn thì cũng đừng sỉ vả, ruồng rẫy trong khi tử tội thì vẫn đồng ý chịu chết nếu đó là thiên luật định phải như thế.

Sang Sapurba đã không chỉ đồng ý với cầu xin của Demang Lebar Daun mà còn bổ sung điều kiện rang buộc là để được như vậy thì hậu duệ Demang Lebar Daun vẫn phải tận trung hậu duệ Sang Sapurba ngay cả khi có bị hậu duệ Sang Sapurba áp bức hay đối xử ác ý chứ không thì sẽ không được chết yên ổn với kết quả sau khi Demang Lebar Daun mặc cả được thêm 1 điều khoản là hậu duệ mình sẽ được giải phóng khỏi giao ước đã định ở trường hợp hậu duệ Sang Sapurba tự ý không làm theo điều khoản giao kết thì vua tôi Sang Sapurba – Demang Lebar Daun đã định xong giao ước nhà Demang Lebar Daun sẽ nối đời tận trung nhà Sang Sapurba.

Thành quả từ sự kết hợp 2 nhà Sang Sapurba – Demang Lebar Daun là Sang Nila Utama sau khi ra đời đã được gả cho công chúa quốc đảo Bintan thuộc quần đảo Riau rồi trở thành vua của đảo quốc này vốn đảo Bintan nói riêng cùng quần đảo Riau nói chung theo ghi chép các tài liệu phương Tây gồm cả Tome Pires người Bồ Đào Nha, nhà địa lý kiêm nhà thám hiểm người Berber từng chu du 1 khu vực rộng lớn của 3 châu lục Á-Âu-Phi là Abu Abdullah Muhammad ibn Battutah a.k.a ibn Battutah (1304-1369) là căn cứ truyền thống của dân Đông phương Hải Nhân tộc Orang Laut hành nghề cướp biển và thông qua cuộc hôn nhân nhân này thì Sang Nila Utama đã tranh thủ được sự ủng hộ, hậu thuẫn của người Orang Laut với cơ nghiệp dòng dõi nhà mình, bất kể là khi Sang Nila Utama lập Singapura hay rất lâu sau đó là hậu duệ Parameswara của Sang Nila Utama lập ra Malacca thì lực lượng ủng hộ đều có mặt người Orang Laut.

Bintan có vai trò quan trọng trong sự thành lập cũng như suy vong của các quốc gia có liên quan tới nhà Parameswara là Singapura – Malacca khi mà từ Bintan, nhà Sang Nila Utama đã tiến lên lập quốc Singapura tại đảo Singapore trước khi dời vào đất liền Mã Lai mà lập ra Malacca để rồi sau khi để mất Malacca cho Bồ Đào Nha năm 1511, dòng dõi nhà Sang Nila Utama đã lui về lập căn cứ chống Bồ tại đảo Bintan cho tới năm 1526 mới bị quân Bồ đuổi khỏi đảo.

Huyền thoại nổi tiếng về con sư tử trên đảo dẫn tới việc lập quốc của Singapura sau cùng cũng đã xảy ra khi mà trong 1 lần đi săn trên đảo Bintan, Sang Nila Utama đã tình cờ thấy phía xa khơi có 1 hòn đảo có bãi biển đầy cát đẹp như 1 tấm vải trắng và sau khi được người bản địa cho hay đó là đảo Temasek, Sang Nila Utama đã cùng tuỳ tùng của mình quyết định vượt eo biển Singapore từ đảo Bintan tới đảo chính Singapore Pulau Ujong để đi săn vốn khoảng cách giữa 2 đảo chính Singapore với đảo Bintan của Indonesia là xấp xỉ 42 hải lý qua Eo biển Singapore và hiện tại thì phải mất từ 1 giờ 10 phút tới 1 giờ 45 phút để đi phà từ Bintan tới Singapore hay ngược lại.

Mặc dù ở thời hiện đại thì việc bắt phà qua lại Bintan – Singapore rất là dễ dàng song ở vào cái thời kỳ vài thế kỷ trước thì con số 42 hải lý cũng là 1 hải trình dài đầy nguy hiểm khi mà đang ở giữa chặng đường từ Bintan tới đảo chính Singapore, đoàn thuyền của Sang Nila Utama đã gặp bão đủ dữ tới mức do thuyền bị vào nước nên để ngăn tình trạng tất cả phải bỏ tàu, Sang Nila Utama đã phải cho đem các thứ đồ nặng trên tàu xả rác hết xuống biển vốn trong đống “rác” bị Sang Nila Utama cho tống xuống biển để giữ mạng thì có cả chiếc vương miện bằng vàng cẩn đá quý mà Sang Nila Utama nhận được từ người đảo Bintan khi kết hôn với công chúa lẫn trở thành vua của họ.

Ít nhất thì cái giá phải trả bằng vương miện bằng vàng cẩn đá quý của Sang Nila Utama vẫn là quá rẻ khi mà sau khi phải cúng luôn cái vương miện của mình cho Hà Bá thì trời tự nhiên hết bão và Sang Nila Utama sau cùng đã tới được Temasek Hải Phố 1 cách an toàn với nơi Sang Nila Utama sau đó tiến hành đi săn trên đảo Singapore là khu vực đất thoáng gần cửa sông mà nay chính là vị trí toạ lạc Sân chơi ngoài trời Padang ở vùng Lõi Đô thị trong Khu vực Trung Tâm của Singapore.

Lần đi săn kiêm thám hiểm vùng đất mới trên của Sang Nila Utama sau cùng đã trở nên nổi tiếng khi mà trong lúc săn, Sang Nila Utama đã thoáng nhìn thấy 1 con vật kỳ lạ phóng lẹ như chớp vào rừng sâu.

Dù chỉ thấy được trong thoáng chốc song Sang Nila Utama vẫn nhìn rõ được vài đặc điểm của loài thú lạ trên gồm thân đỏ, đầu đen cùng ức trắng với kích cỡ to như con dê đực mà khi hỏi đại thần thì được trả lời đó chính là con sư tử (Singa).

Tuy châu Á có sư tử thật song sư tử Á Châu thực tế chỉ phân bố xa nhất tới Ấn Độ chứ không thể xuống tận khu vực nhiệt đới xích đạo như bán đảo cùng quần đảo Mã Lai nên việc Sang Nila Utama nhìn thấy sư tử rồi lập quốc Singapura tới nay vẫn còn gây tranh cãi khi mà người ta thực sự vẫn chưa biết rõ con thú đem lại danh xưng Đảo quốc Sư Tử cho Singapore có phải là con sư tử đi lạc hay đơn giản là cả Sang Nila Utama cùng mọi người đều nhầm con thú khác họ mèo có đầy trong vùng như cọp Mã Lai, báo lửa hay những con thú ăn cỏ hiền lành, nhút nhát khác …với con sư tử.

Dù kiểu nào thì sau khi được báo là con vật mình nhìn thấy là con sư tử, Sang Nila Utama vì cho đó là điềm lành nên đã quyết định ở lại đảo lẫn lập nên thành phố cùng quốc gia với tên gọi lấy từ tên con vật Sang Nila Utama đã nhìn thấy là con sư tử singa – Singapura.

Sau 1 thời gian cai trị và phát triển thành phố mới thì theo Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên, vương quốc Singapura non trẻ đã sớm được thử lửa khi phải lần đầu tiên đối phó với hoạ xâm lăng từ các quốc gia khác trong khu vực.

Đối thủ ngoại xâm đầu tiên mà Singapura phải chống trả là người Thái từ Xiêm mà có thể là từ nước Lavo ở hạ lưu sông Chao Phraya khi mà theo Uông Đại Uyên ghi chép trong Đảo Di Chí Lược về cuộc xâm lược của người Thái xuống Singapura thì thập niên 1330, Xiêm đã cho hạm đội 70 tàu đổ quân lên đảo.

Để đối phó với việc bị đại binh người Xiêm đổ bộ, dân Singapura đã đóng cổng thành cố thủ vốn sau đó thì quân Xiêm đã bị chôn chân bên ngoài suốt 1 tháng liền do bởi Singapura sở hữu thành kiên cố với hào sâu bao quanh vượt sức tấn công của Xiêm để rồi sau cùng thì trước việc người Singapura đón tiếp tàu Trung Hoa tới thì Xiêm binh đã phải rút lui vốn Xiêm vì các hành động cho hạm đội vượt biển công đánh lân bang đã không chỉ bị điểm mặt trong chính sử Trung Hoa mà còn bị Thiên triều Trung Hoa ngăn trở không cho nhận vinh dự đặc biệt được cho nhận tước hiệu cao do bởi các hoạt động đánh phá các nước có giao thiệp với Trung Hoa tại khu vực Đông Nam Á.

Sang Nila Utama sau thời gian lập và cai trị Singapura thì theo Biên niên sử Mã Lai đã qua đời vào năm 1347 và được kế vị bởi con trai Sri Wikrama Wira.

Tuy là Sang Nila Utama và câu chuyện lập quốc Singapura tới nay vẫn còn bị nhiều sử gia cho rằng không thật vì nó chỉ được bịa lên khi Singapura chỉ thực sự thành 1 quốc gia vào lúc Parameswara cai trị đảo này 1 thời gian ngắn vào cuối thế kỷ 14 song tại đại lễ kỷ niệm 200 năm ngày lập quốc Singapore hiện đại tổ chức vào năm 2019 thì bên cạnh tượng cha đẻ Singapore hiện đại là Thomas Raffles bằng thạch cao được dựng từ rất lâu trước đó vào năm 1972 tại Khu vực Raffles Đổ bộ tại Singapore là nơi người Singapore cho rằng vào ngày 28 tháng 1 năm 1819, Thomas Raffles đã lần đầu tiên đặt chân lên Singapore từ vị trí này, 1 số các bức tượng thạch cao khác đã được chính quyền Singapore cho dựng nên để bổ sung vốn trong số này có cả tượng cha đẻ của Singapore thời cổ – Sang Nila Utama.

Sri Wikrama Wira cũng như tiên quân Sang Nila Utama thì sau lên kế vị vào năm 1347 cũng đã chỉ huy quân dân đánh bại 1 lực lượng ngoại xâm khác mà lập võ công bảo vệ thành công độc lập của Singapura.

Kể từ sau khi được thành lập năm 1293, Đế quốc Majapahit có ý định khôi phục lại cương thổ của Đế quốc Srivijaya của dân Java song với phiên bản mới là người Java mới là tầng lớp thống trị và để làm được việc đó thì họ đã không ngừng tung quân ra bành trướng khắp nơi và tới năm 1347 thì Majapahit đã cho quân vượt eo biển Sunda để đổ bộ lên Sumatra tiêu diệt các tàn dư của Đế quốc Srivijaya còn tồn tại ở trên đảo như vương quốc Melayu vốn qua cuộc xâm lược này thì 1 người có quan hệ thân thuộc của cả vua Majapahit đảo Java lẫn Melayu đảo Sumatra bấy giờ đang là tướng của Majapahit là Adityawarman đã lập nên quốc gia Pagaruyung của người Minangkabau tại miền tây đảo Sumatra dưới thân phận là chư hầu Majapahit vào ngay trong cùng năm 1347.

Sang năm 1350, hoàng đế đời thứ 4 của Majapahit là Dyah Hayam Wuruk (1334-1389) đã đăng cơ và Hayam Wuruk đã được trợ giúp trong việc kiến lập Đế quốc Majaaphit hung mạnh tại Nam Dương bởi nguyên lão đại thần Gajah Mada a.k.a Jirnnodhara (khoảng 1290-khoảng 1364) – người trở thành Tể tướng Mahapatih của Đế quốc Majapahit từ năm 1331 tới khoảng năm 1364 vốn theo ghi chép trong tác phẩm sử biên niên Sách Về Các Vua Pararaton a.k.a Câu Chuyện về Ken Angrok Katuturanira Ken Angrok thì vào năm 1334/1336, Gajah Mada đã thực hiện lời thề Palapa (Sumpah Palapa) nổi danh rằng mình sẽ không ngừng ăn uống kiêng khem/ăn uống đoản vị (palapa) khi nào mà chưa giúp được Majapahit thu gom hết Nusantara về 1 mối với Nusantara là tên gọi Gajah Mada dùng gọi chung các đảo bên ngoài Java gồm cả đảo Singapore trong Lời thề Palapa.

Cũng vì lời thề nổi danh của Gajah Mada lẫn tham vọng của Hayam Wuruk mà theo Biên niên sử Mã Lai thì sau khi đăng cơ, Hayam Wuruk đã phái sứ tới đòi Singapura quy phục chỉ để không những bị Sri Wikrama Wira từ chối mà Sri Wikrama Wira còn bắn tin ngược lại là hăm doạ sẽ cạo đầu hoàng đế Hayam Wuruk của Majapahit nếu Hayam Wuruk dám léo hánh tới Singapura.

Hayam Wuruk khi hay tin Singapura không những từ chối quy phục mà còn hăm doạ đòi cạo đầu mình thì đã phái hạm đội gồm 100 tàu chiến lớn Jong cùng nhiều tàu nhỏ đi tới đảo Bintan trong quần đảo Riau rồi từ đó vượt Eo biển Singapore mà đánh thẳng vào Singapura.

Ngay lúc hạm đội Majapahit còn ở Bintan thì Singapura đã không những biết tin về cuộc xâm lược sắp tới của Majaaphit mà không để phí thời gian, phía Singapura đã huy động hạm đội 400 tàu chiến ra nghênh chiến với kết quả sau 3 ngày đêm đại chiến tại bờ biển Singapura thì hạm đội Majapahit do quân thiếu kinh nghiệm hải chiến lẫn ít tàu hơn đã bị đánh bại phải rút hạm đội khỏi Singapura.

Sri Wikrama Wira đã cai trị Singapura cho tới năm 1362 thì qua đời và được kế vị bởi trưởng tử Sri Rana Wikrama vốn dù trước đó thì Sri Wikrama Wira tuy đã đánh thắng Majapahit trên mặt trận quân sự song để có thể giữ yên vị thế là 1 trung tâm mua bán của khu vực nên sau khi chứng tỏ cho Majapahit thấy được sức mạnh tiềm lực Singapura, Singapura có thể đã nhân đó mà chủ động giảng hoà/quy thuận trở thành chư hầu Majapahit và minh chứng cho điều đó là việc người ta tìm thấy trong bài thơ Nagarakretagama tán tụng công đức Hayam Wuruk lẫn mô tả Majapahit ở thời điểm cực đại được nhà sư Mpu Prapanca viết bằng chữ Java Cổ a.k.a chữ Kawi trên lá cọ (lontar) vào năm 1365 lẫn được người Hà Lan đoạt lấy từ tay dân bản địa Sasak sống tại đảo Lombok thuộc quần đảo Tiểu Sunda ở tỉnh Tây Nusan Tenggara của Indonesia tại chiến dịch năm 1894 trước khi đem nghiên cứu nội dung, 1 danh sách các phiên thuộc thời bấy giờ của Đế quốc Majapahit vốn trong này có cả tên của Singapura.

Ngoài ra thì Sri Rana Wikrama còn thiết lập quan hệ với cả Hồi quốc Perlak a.k.a Peureulak ở Đông Aceh thuộc đảo Sumatra và thời kỳ trị vì Singapura của Sri Rana Wikrama cũng là giai đoạn xảy ra câu chuyện về lực sỹ Badang đã được nhắc tới trong Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu.

Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu không chỉ ghi chép Sri Rana Wikrama trị vì tới năm 1375 và được kế vị bởi trưởng tử Paduka Sri Maharaja mà còn ghi cả việc Paduka Sri Maharaja sau khi trở thành tân chủ của Singapura đã phải đối mặt với nạn cá kiếm tung hoành ở duyên hải Singapura khi mà những con cá kiếm thuộc giống todak đã bất ngờ vọt lên khỏi mặt nước, phi lên bãi biển và dùng mũi kiếm ngay phần đầu xiên chết những người có mặt trên bãi biển qua những phần hiểm trên cơ thể họ như từ ngực đâm suốt ra lưng, từ phần eo bên này qua eo bên kia giữa lúc đâm tại cổ thì lũ cá kiếm đủ sức làm lìa đầu người ra khỏi cơ thể.

Nguồn cơn của nạn cá kiếm todak tự nhiên ra khỏi biển để giết người ở quy mô lớn được Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu xâu chuỗi cho việc trước đó Paduka Sri Maharaja từng giết oan 1 người tên Tun Jana Khateb đến thăm thú Singapura từ Hồi quốc Samudera Pasai ở duyên hải phía bắc đảo Sumatra do bởi trong lúc Tun Jana Khateb đang đứng nhìn cây trầu không mọc gần cung điện vua Singapura thì cây trầu không đã bất ngờ bị gãy đúng lúc tình cờ có 1 phi tần của Paduka Sri Maharaja đang quan sát chăm chú Tun Jana Khateb dẫn đến Paduka Sri Maharaja cho rằng Tun Jana Khateb làm gãy cây trầu không là để khoe tài cũng như lấy le với thê thiếp của mình đã cho lôi Tun Jana Khateb ra xử tử rồi bị Tun Jana Khateb nguyền rủa.

Khi gặp nạn cá kiếm todak giết người, Paduka Sri Maharaja đã đối phó bằng việc cho người xuống biển dàn hàng ngang dùng chân làm thành hàng rào ngăn cá kiếm phi lên bãi biển nhưng cách này không những vô hiệu mà còn làm thiệt hại phe phòng thủ khi lũ cá kiếm todak đã dùng mũi kiếm nơi đầu mình mà đâm xuyên qua chân người, đốn ngã những lính phòng thủ dưới biển trước khi tiếp tục phi lên bờ giết người.

Trước viễn cảnh tang tóc này, Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu có ghi chép việc xuất hiện 1 cậu bé tới đề nghị với Paduka Sri Maharaja dùng thân cây chuối lá làm hàng rào ngăn cá kiếm todak xâm nhập vốn không chỉ Paduka Sri Maharaja đã làm theo lời của cậu bé mà kết quả sau đó rất thành công khi mà lũ cá kiếm phóng lên mặt nước đã sớm bị mắc mũi kiếm vào phần thân xốp của cây chuối mà không thể thoát được vốn chỉ chờ có thế thì người Singapura đã chạy ra ngoài phía mặt ngoài của hàng rào để giết những con cá kiếm đang bị găm chặt vào hàng rào làm từ thân cây chuối tới mức xác cá kiếm todak bị giết chất thành đống lớn.

Khu vực diễn ra trận chiến giữa người Singapura với cá kiếm todak theo ghi chép trong Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu được cho là tại Tanjong Pagar thuộc Quận Thương Mại của Singapore ngày nay với tên gọi thời xưa khi nó còn là làng chài chỗ chiến trường giữa người và cá kiếm todak là Salinter.

Tuy cậu bé vô danh đã lập công trong việc giúp Singapura thoát nạn cá kiếm todak giết người song kết cục cậu bé lại rất bi thảm khi mà Paduka Sri Maharaja vì đố kỵ với trí thông minh của cậu bé đã nghe theo lời đề nghị của quần thần là phải giết đi vì mới tý tuổi mà đã hiểu biết được những thứ ngoài tầm hiểu biết của người thường vốn Paduka Sri Maharaja đã bí mật cử sát thủ tới giết cậu bé thông minh nọ.

Theo truyền thuyết thì khi cậu bé thông minh bị sát thủ của nhà vua giết vì tội quá thông minh, máu cậu bé đã thấm vào đất khiến đất có màu đỏ như ngày nay với khu vực cậu bé thông minh bị giết oan là được cho là tại Bukit Merah a.k.a Đồi Đỏ tại cực nam Khu vực Trung Tâm của Singapore dù rằng việc đất tại Bukit Merah có màu đỏ thì thực tế có vẻ liên quan tới việc đất chỗ này thuộc về loại đá ong hơn.

Paduka Sri Maharaja được Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu cho rằng đã cai trị Singapura tới năm 1389 thì được kế vị bởi con trai Iskandar Shah a.k.a Parameswara – chính là vua Parameswara đã lập nên Malacca về sau dù rằng các nguồn thư tịch phương Tây đều ghi rằng Parameswara từ chạy tới đoạt vị tiểu vương bản địa của Singapura vốn qua đó thì kết thúc nhà Sang Nila Utama ở trường hợp người phương Tây thừa nhận sự tồn tại của các quân chủ Singapura nhà Sang Nila Utama với vị thủ lĩnh Singapura bị Parameswara đoạt vị cũng khác nhau dựa theo ghi chép phương Tây khi mà vài chỗ thì cho là vị vua Temasek bị đoạt vị là 1 phó vương tên Temagi của Xiêm trong khi the vài ghi chép khác thì thủ lĩnh (Sang Aji) của Temasek là Singesinga.

Sau 4 đời vua truyền nối nhau 1 cách bình yên thì sau khi Parameswara lên cai trị Singapura được 1 thời gian, ngày cáo chung của Singapura sau cùng cũng tới vào năm 1398 khi mà vào năm này thì Singapura đã bị diệt vong còn việc diệt vong bởi ai đây chính là điểm bất nhất của các sử liệu.

Mâu thuẫn nhất về người diệt Singapura nhất là các sử gia người Bồ Đào Nha khi mà theo sử gia người Bồ Đào Nha được mệnh danh là Livy người Bồ Đào Nha kiêm tác gia tác phẩm Các Thập kỷ Châu Á Decadas da Asia là Joao de Barros (1496-1570) thì người diệt Singapura là Xiêm La/Ayutthaya trong khi theo quan tài vụ người Bồ Đào Nha là Bras de Albuquerque (1500-1580) kiêm con trai kẻ chinh phục Hồi quốc cùng thành phố Malacca là Afonso de Albuquerque (khoảng 1453-1515) thì diệt Singapura là Hồi quốc Pattani tại miền nam Thái Lan giữa lúc tác gia kiêm người vẽ bản đồ mang 2 dòng máu Bồ Đào Nha – Bugis (dân bản địa phía nam đảo Sulawesi ở phía đông Indonesia) là Manuel Godinho de Edira (1563-1623) lại cho rằng chính Hồi quốc Pahang trên bán đảo Mã Lai (gọi chung lãnh thổ Mã Lai trên bán đảo Mã Lai là là Malaya) mới là người diệt Singapura của Parameswara.

Trong số các ứng viên diệt Singapura do các sử gia Bồ Đào Nha đưa ra thì chỉ 1 sử gia khác người Bồ Đào Nha là Diogo do Couto (khoảng 1542-1616) vốn là 1 người tham gia hoàn thiện tác phẩm Các Thập kỷ Châu Á Decadas da Asia thì lại chia sẻ chung nhận định về ứng viên thủ phạm diệt Singapura của Parameswara vào năm 1398 với Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu là Đế quốc Majapahit.

Câu chuyện về sự thất thủ của Singapura theo Biên niên sử Mã Lai Sejarah Melayu là sau khi Singapura được truyền nối yên ổn qua 4 đời vua đầu thì khi Parameswara lên làm vua Singapura, Parameswara vì phát hiện 1 phi tần của mình – con gái viên trọng thần Sang Rajuna Tapa của triều đình có hành vi thông dâm nên đã tiến hành trừng phạt bằng việc cho lột đồ vị phi tần thông dâm kia 1 cách thị chúng và việc này đã khiến nhạc phụ Sang Rajuna Tapa sau đó tức giận mà ra tay trả thù cho con gái bằng cách bí mật gọi Đế quốc Majapahit tới tấn công Singapura của Parameswara.

Đế quốc Majapahit từ lâu đã muốn thôn tính hoàn toàn Singapura nên khi được Sang Rajuna Tapa bí mật mời tới đánh úp Singapura thì đã phát ngay ít nhất 300 tàu cùng 200,000 quân thẳng tiến Singapura.

Trước sức tấn công quá mạnh của người Java, Parameswara đã quyết định cho đóng cửa thành Singapura để cố thủ song vì muốn trả thù cho con gái tới cùng nên Sang Rajuna Tapa đã tiếp tục vai trò nội ứng phá hoại Singapura từ bên trong của mình bằng các hoạt động không phát lương thực cho quân dân Singapura làm mọi người bị đói trước khi cho mở cửa thành phố được bảo vệ bằng tường thành đủ kiên cố tới mức vượt sức phá huỷ của quân Majapahit này để cho quân Majapahit tràn vào trong thành chém giết khiến cho Singapura tới đây thì bị diệt vong trong khi bản thân thân Parameswara phải vượt eo biển Johor ngăn cách giữa đảo Singapore với bán đảo Mã Lai để trốn vào đất liền ở phía bắc trước khi sau đó tới lập ra Hồi quốc Malacca ở bờ bắc Eo biển Malacca vào năm 1400.

II. Văn vật

Địa lý của Ban Tốt theo mô tả trong Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên là không chỉ liền với phần núi phía sau của Long Nha Môn mà địa thế sơn địa Ban Tốt còn liền mạch đứt đoạn đan xen nhau với các đỉnh lồi cùng các đỉnh nút song thung lũng của Ban Tốt thì không được sâu.

Ban Tốt có khí hậu hơi khác Long Nha Môn ở chỗ Đảo Di Chí Lược đề cập rằng Ban Tốt khí hậu không đồng đều với mùa hè tuy có mưa nhiều nhưng lại hơi lạnh vốn có lẽ là do vị trí nằm trong đất liền sâu hơn Long Nha Môn dù về chất đất thì ruộng Ban Tốt cũng xấu/cằn cỗi như ruộng tại Long Nha Môn.

So với Long Nha Môn thì sản vật thu hoạch từ đất tại Ban Tốt lại ngon hơn hẳn dù cả 2 đều ở cùng đảo Singapore khi mà kể sản vật cao cấp thì Đảo Di Chí Liệt đề cập tới hạc đính (có thể là hoa lan hạc đính Phaius) hoặc mũ từ chim mỏ sừng giữa lúc sản vật chất lượng hạng trung thì có giáng chân hương, hoa gạo (mộc miên hoa) vốn bên cạnh đó thì người Ban Tốt cũng có sản xuất các mặt hàng khác chính là muối đun từ nước biển cùng thứ rượu ủ từ gạo có tên là Minh Gia Tây.

Ngoài các thứ trên thì hàng hoá mua bán tại Ban Tốt còn có vải tơ (ti bố), sắt dạng thanh (thiết điều), vải in có màu đất (thổ ấn bố), kim loại đỏ, (xích kim), đồ sứ) (từ khí), vạc sắt (thiết đỉnh), gỗ laka.

Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên mô tả rằng người dân Ban Tốt sống quanh khu vực địa hình trập trùng núi , gò cùng thung lũng cạn với dân cư Ban Tốt được Uông Đại Uyên nhắc tới ở phương diện tính là chất phát giữa lúc mặt ngoại hình trang phục thì mình khoác vải dệt sợi to màu đỏ (hồng trừu bố), đầu không những để tóc ngắn (đoản phát) mà còn dùng gấm dệt bằng tơ (đoạn cẩm) quấn quanh.

Bên cạnh đó thì dựa theo hiện vật tảng Đá Singapore có khắc chữ tương tự chữ Cổ Java a.k.a Văn tự Kawi hệ Ấn Độ được người Anh tìm thấy ở cửa sông Singapore năm 1819 vốn được cho là bằng chứng hiển hiện cho câu chuyện về Đại lực sỹ Badang có dư sức lực dời núi lấp biển tại Singapura ngày trước thì có vẻ dân Ban Tốt không chỉ biết chữ mà do chịu ảnh hưởng từ Java nên thứ văn tự họ dùng là chữ Kawi.

Về quan chế Singapura thì dù không thể kết luận 1 cách chắc chắn song kết nối việc Parameswara từng làm vua Singapura trước khi vong quốc phải lập nước mới là Malacca ở bán đảo Mã Lai thì Hồi quốc Malacca đã du nhập 1 phần hệ thống quan chế cũ được Parameswara cùng thuộc hạ mang theo tới bán đảo Mã Lai sau khi Singapura bị diệt vong mà điển hình là hệ thống Tứ Trụ Triều đình Orang Besar Berempat gồm 4 quan vị, chức vụ đầu triều với 4 vị trí quan lại đầu triều của Singapura gồm có 2 vị trí Tể tướng Bendahara lẫn quan coi ngân khố Penghulu Bandahari là giống với Tứ trụ Triều đình của Hồi quốc Malacca sau đó.

Dù có hệ thống bộ máy triều đình Singapura có phần giống với bộ máy triều đình Malacca kế tục nó song cả 2 quốc gia đều từng có chung 1 vị vua Parameswara này cũng có sở hữu điểm khác nhau chính là Singapura vì vẫn còn chụ ảnh hưởng Ấn Độ với tôn giáo là sự pha trộn giữa các tôn giáo phát xuất từ Ấn Độ gồm Phật giáo – Bà La Môn nên vua mang vương hiệu là Raja trong khi Malacca thì lấy Hồi giáo làm quốc giáo nên vương hiệu của vua là Sultan/Shah.

2 quan vị còn lại trong Hệ thống Tứ trụ Triều đình Singapura theo Biên niên sử Mã Lai gồm Phó tể Perdana Menteri có vị trí ngồi đối diện với Tể tướng Bendahara khi thiết triều lẫn nhiệm vụ là hỗ trợ Tể tướng Bendahara quản lý nội chính cùng Nguyên soái Hulubalang Besar có nhiệm vụ chỉ huy quân đội cùng các chỉ huy Hulubalang dưới quyền.

Bên cạnh đó thì Singapura cũng sở hữu 1 số vị trí quan lại cấp thấp có thể kể tới là Orang Besar Caterias, Sida Bentaras cùng Orang Kaya.

Quân sự Singapura/Ban Tốt dù chỉ được nhắc sơ ở 1 vài thư tịch sử song có thể thấy là với vị trí là 1 thành bang mạnh về thương mại hàng hải lại toạ lạc giữa đảo nên sức mạnh cơ bản của quân đội Singapura là lực lượng hải quân vốn theo Biên Niên sử Mã Lai thì quy mô hạm đội mà Singapura điều ra kháng cự cuộc xâm lược do hoàng đế Hayam Wuruk của Đế quốc Majapahit ở đảo Java phát động là những 400 tàu chiến với binh sỹ thông thạo thuỷ chiến hơn người Java mà lý giải cho điều này thì có lẽ vì nhân sự được tuyển từ dân bản địa Temasek là tộc người Orang Laut nổi danh giỏi sinh hoạt lẫn đánh nhau trên biển.

1 thứ khác tuy rằng không chắc Singapura/Ban Tốt có nhưng việc nó có thể từng có tại Long Nha Môn gần đó lại được chính sử Trung Hoa ghi nhận chính là voi đã được thuần hoá có thể dùng cho mục đích chiến tranh vốn theo ghi chép thì vào năm 1320, Nguyên đình từng cử sứ tới Long Nha Môn để mua voi đã thuần hoá.

Song song đó thì 1 mảnh ghép quân sự khác cũng được nhắc tới trong các thư tịch Biên niên sử Mã Lai lẫn ghi chép của Uông Đại Uyên chính là việc Singapura sở hữu công sự phòng thủ vững chắc mà nói trắng ra là tường thành kiên cố bảo vệ thành phố vốn Công sứ thứ 2 của Singapore là John Crawford từng khảo sát và mô tả về các phế tích trên đồi Pháo đài Canning của Singapore mà trong số này gồm cả phế tích bức tường thành có bề rộng 5m cùng chiều cao 3m.

Đánh giá post

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s