Sử Ấn Độ

Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ với văn hóa Đông Nam Á

Ấn Độ là nền văn minh lâu đời. Văn hóa Ấn bao trùm một dài phía nam Việt Nam, đối trọng với văn hóa Trung Quốc phía bắc

tac dong van hoa an do dong nam a

Chính người Ấn Độ đã biết đến Đông Nam Á từ rất sớm. Nhiều thế kỷ trước khi Khang Thái và Chu Ứng nhà Ngô đến nước Phù Nam và những ghi chép của các biên niên sử gia nhà Hán (Trung Quốc), về nước Lâm Ấp v.v…, sử thi Ramayana của Ấn Độ đã nói tới xứ Java và Sumatra. Arthasatra do Kautilya soạn thảo bắt đầu từ thế kỷ IV TCN đã nói tới xứ Đất Vàng (Suvarnabhumi), Đảo Vàng (Suvarnadvipa), để chỉ miền đất Đông Nam Á phía Đông Ấn Độ, gần gũi trực tiếp là Myanmar ngày nay và các vùng hải đảo Đông Nam Á. Ở đó cũng nói “Ai đi đến Java thì không bao giờ thấy trở lại. Nếu may mà về được thì vàng bạc tiêu đủ đến 7 đời”. Tài liệu thời muộn hơn Sasanavamsaappadipika cũng cho biết vua Asoka (thế kỷ III TCN) đã cử tới 3 đoàn truyền giáo do các vị cao tăng Gavampti, Sona và Uttara đi truyền bá Phật giáo đến xứ Đất Vàng (Suvarnabhumi) tức đến Thatin và vùng Nam sông Sittang (Myanmar).

Ta có thể nghĩ, hẳn người Ấn Độ không lạ gì xứ Đất Vàng, tức Myanmar giáp liền phía Đông Ấn Độ thì sự tiếp xúc rộng rãi của người Ấn Độ và Đông Nam Á, có thể có vai trò của người Nam Đảo (Austronesian), những cư dân nói ngôn ngữ Malayo Polynesia, giỏi nghề đi biển, sống ở vùng hải đảo, từ Polynesia Java đến Đài Loan còn đi lên đến Nam Nhật Bản, và vùng duyên hải Đông Nam Á, từ bờ biển Nam Trung Hoa đến ven biển Việt Nam, bán đảo Malaya, có thể cả miền Đông Bắc Ấn Độ và còn đi xa hơn nữa đến gần bờ biển Đông Phi.

Đã có khá nhiều tài liệu, hiện vật khảo cổ học cho thấy mối quan hệ giữa Ấn Độ với Đông Nam Á và giữa các vùng Đông Nam Á với nhau, đặc biệt qua các hiện vật phát hiện được ở Óc Eo (An Giang) và các địa điểm khác ở Đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam).

Gần đây, qua cuộc khai quật khảo cổ học ở Ban Don Ta Phet (BDTP) Thái Lan, qua công trình tổng kết về BDTP và nghiên cứu về “mậu dịch sớm giữa Ấn Độ và Đông Nam Á, cầu nối trong sự phát triển của hệ thống mậu dịch thế giới” (Ian G. Glover, 1989)1, tác giả cho biết ở đây (BDTP) phát hiện chuỗi vòng bằng thủy tinh xanh lá cây trong suốt, cắt hình trụ 8 cạnh, chuỗi vòng hạt tròn bằng mã não, hoặc Carnelian có màu đen, trắng, đỏ… có mài vân đẹp, có hoa tai bằng đá quý tạc hình sư tử quỳ phục, là những vật đã thấy ở Taxila, Orissa (Ấn Độ). Những chuỗi vòng như thế tìm thấy với số lượng đáng kể ở Óc Eo và cả ven biển miền Trung, miền Nam Việt Nam.

Loại nắp bình hương chóp nón, một kiểu “sputa” (?!) đã thấy ở Taxila, Orissa, lại cũng thấy ở BDTP Thái Lan và miền Nam Việt Nam. Một loại khuyên tai có hình đầu trâu (?) rất giống nhau đã được phát hiện ở Philippin, Sa Huỳnh, Cần Giờ (Việt Nam) và cả Ban Don Ta Phet (Thái Lan).

Những con đường buôn bán giao lưu văn hóa như thế, là tiền đề và cơ sở để các nước, vùng Đông Nam Á tiếp xúc và học hỏi ở nền văn hóa Ấn Độ, một nền văn hóa lâu đời và phát triển cao.

Như thế, khi tiếp xúc với Ấn Độ, Đông Nam Á đã đứng ở một trình độ phát triển nhất định qua những hiện vật tìm thấy ở Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), và ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), chẳng hạn, đã trải qua một giai đoạn đồ đồng tiền Sa Huỳnh dài cả nghìn năm. Những hiện vật như thế tìm thấy lẫn ở Óc Eo thì chính ở đây cũng đã qua một giai đoạn tiền Óc Eo, tương đương Sa Huỳnh.

[elementor-template id=”2681″]

Sa Huỳnh, Hàng Gòn, Cần Giờ, tiền Óc Eo và cả Ban Don Ta Phet là giai đoạn tiền sử muộn (Later Prehistory), hay còn gọi là giai đoạn C mà một số nhà khảo cổ học đã đặt ra (D. Bayard, 1984, Ch. Higham 1984, Ian G. Glover 1989) được đặc trưng bởi: 1/sự chế tác và sử dụng đồ sắt; 2/sự phát triển nghề nông trồng lúa nước trên ruộng thấp; 3/sự bắt đầu phân tầng xã hội, tuy về điểm này tài liệu còn nghèo.

Nói cách khác, Đông Nam Á không còn ở trong thời mông muội hay dã man mà tự mình đứng trước ngưỡng cửa của thời đại văn minh. Từ đây, cùng với tiếp xúc văn hóa Ấn Độ, Đông Nam Á chuyển mình và biến đổi nhanh chóng.

1

Người Ấn Độ, dù là tăng lữ hay thương nhân, cũng mang đến Đông Nam Á trước tiên là tôn giáo, tín ngưỡng của họ. Có lẽ bởi vì sự truyền bá tôn giáo là phương tiện thuận lợi nhất để cảm hóa, chan hòa với bản địa, để tạo nên cộng đồng “đồng đạo” cảm thông và ủng hộ giữa những người xa xứ với nhau và giữa những người ngoại quốc với dân bản địa.

Tín ngưỡng dẫn tới sự tạc tượng thờ. Ở Pra Pathom (Nam Thái Lan) và ở An Giang (Nam Việt Nam) đã thấy những hình luân xa bằng đất nung là cách tượng trưng cho Phật có từ rất sớm ở Ấn Độ, trước khi người ta biết thể hiện Phật bằng hình dáng người.

Đến khi khai quật Pong Tik (Nam Thái Lan), Ian G. Glover (1927)2 phát hiện được một số pho tượng Phật nhỏ bằng đồng, trong đó có một pho tượng mô tả “tư thế đứng mềm mại, áo cà sa uốn lượn đầu như làn sóng – đã thể hiện những đặc trưng chủ yếu của trường phái Amaravati”, có niên đại thế kỷ II Công nguyên. Rồi ít nhất có hai pho tượng Amaravati này cũng được phát hiện ở An Giang.3

1a. Ban đầu, người ta đúc tượng nhỏ bằng đồng thau, dựa trên kỹ nghệ đồng đã có từ nhiều thế kỷ trước của chính cư dân Đông Nam Á. Ở Việt Nam, có nhiều tượng Hindu giáo bằng đồng, khá nhỏ, thường chỉ cao trên 10 cm, và cả một số tượng tạc bằng đá. Nhưng cho đến nay việc xác định niên đại các tượng Hindu giáo, cả bằng đồng và bằng đá, còn rất khó khăn thì những pho tượng Phật thuộc trường phái Amaravati đều có rất sớm. Do sẽ có một lớp tượng thuộc phong cách muộn hơn, sẽ nói tới ở dưới đây, nếu như tượng Phật Amaravati nguyên mẫu ở Ấn Độ có niên đại thế kỷ II Công nguyên, thì 3 pho tượng có phong cách tương tự tìm thấy ở Việt Nam và Thái Lan cũng không thể muộn hơn thế kỷ III-IV Công nguyên.

Đây hẳn là làn sóng du nhập văn hóa đầu tiên của Ấn Độ, diễn ra vào 2-3 thế kỷ đầu Công nguyên, thể hiện dưới hình thức truyền bá tôn giáo và đúc tượng thờ.

1b. Chữ viết cũng là một nhu cầu bức thiết hàng đầu. Không chỉ là cần phải ghi lại những giấy tờ mệnh lệnh, “công văn” của Nhà nước, lúc này đều đang mới thành lập, mà còn phải ghi chép kinh kệ để học, ghi chép biên kê những điều cần thiết khi giao dịch, và cả những điều tâm nguyện của mỗi người muốn bày tỏ với Thần, Phật. Rất nhiều bản chữ viết sau này chứng tỏ điều đó. Nhưng phổ biến nhất vẫn là kinh kệ, văn bản nhà nước. Cho nên thư tịch cổ nói về nước Phù Nam, có nhiều sách “văn khố, thư đều viết chữ Hồ”.

Ban đầu, dân bản địa chưa có chữ viết; họ học chữ cổ Ấn Độ, chủ yếu là chữ Phạn, Sanskrit, thứ ngôn ngữ đã được hoàn thiện từ thế kỷ V TCN, dùng phổ biến trên bán đảo Hindustan từ đầu Công nguyên.

Cũng khoảng thời gian này, chữ Sanskrit được truyền thụ ở Đông Nam Á. Chắc rằng người ta đã dùng chữ để viết nhiều văn bản trên lá cây, khắc trên đất đem nung để đến một giai đoạn thuần thục thì viết văn và khắc trên bia đá.

Bia vào loại sớm nhất là bia Võ Cạnh ở Nha Trang, thuộc một xứ sở Nam Champa và việc đoán định niên đại dù có đẩy muộn cũng phải coi là khoảng cuối thế kỷ III (J.Filiozat 1968)4. Đây là một tấm bia “khổng lồ” cao 2m50, khắc chữ trên 2 mặt liền, không phân biệt AB, dài khoảng 15 dòng, mỗi dòng có 5-6 chữ khoảng 30 âm tiết, chữ cổ, văn cổ song đã khá hoàn chỉnh, cho biết về một triều vua Sri Mara, tôn thờ Hindu giáo, tin vào sự phù du của cuộc sống trần gian, vui vì việc thiện, phân phát của bố thí cho mọi người.

Có niên đại muộn hơn một chút khoảng giữa thế kỷ IV là 3 văn bia chữ Phạn5 cùng nhắc đến tên một ông vua – Bhadravarman I tìm thấy ở miền Trung. Muộn hơn chút nữa là 7 chiếc cột đã phát hiện ở phía Đông đảo Borneo (Kutei) có niên đại khoảng năm 400 sau CN, nói về những người Bà La Môn ở đây nhân danh vua Mulavarman làm hiến lễ cúng thần.

Khoảng năm 450 sau CN là một phiến đá tìm được ở Arutơn, mỏm phía Tây đảo Java, có tạc lõm một bàn chân khổng lồ và dòng chữ “đây là (dấu chân) Vua Purnavarman giống như chân của Visnu đập tan kẻ thù”.

Ở chính nước Phù Nam, nơi có những dấu tích sớm nhất của quan hệ buôn bán và giao lưu văn hóa với Ấn Độ, đã có 4 bia, gọi là bia Phù Nam, được đoán định niên đại khoảng cuối thế kỷ V. Ở đây, chữ viết và văn chương Sanskrit thể hiện hơi muộn hơn một chút song lại phong phú hơn về chữ viết và văn chương so với các minh văn có trước.

Một trong số 4 văn bia này là bia Tháp Mười, còn gọi là bia hoàng tử Gunavarman tìm thấy ở Đồng Tháp Mười, là một bia lớn, có 12 khổ thơ, gồm 24 dòng, mỗi dòng có khoảng 6 chữ, với khoảng 30 âm tiết, kể về hoàng tử Gunavarman “đức độ, sùng kính, khoáng đạt, có bước đi của Vikramin (Thần Visnu) (chinh phục thế giới) đã xây một ngôi đền trên đất đầm lầy”.

Như thế, có thể suy luận rằng giai đoạn thứ nhất, 3 thế kỷ đầu của Công nguyên là giai đoạn thâm nhập của văn hóa Ấn Độ, cả đạo Phật, Hindu giáo và chữ viết, đã để lại những pho tượng Phật sớm, thế kỷ III-IV, những văn minh sớm, từ thế kỷ III đến thế kỷ V cùng những dấu ấn Hindu giáo được nhắc đến trong các minh văn. Đồng thời là sự đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa thế giới Ấn Độ và thế giới Trung Hoa, là sự thâm nhập của lối sống Ấn Độ vào Đông Nam Á.

Óc Eo (An Giang), đô thị cảng của nước Phù Nam là một ví dụ tiêu biểu mà không có đô thị cổ nào ở Đông Nam Á có thể sánh ngang với nó.

Ở đây đã phát hiện được một chiếc gương đồng thời Hán (Trung Quốc), hai huy chương Rôma thế kỷ II CN, 36 mảnh kim loại (bạc, đồng, thiếc) và viên mã não khắc chữ Sanskrit, Brahmi (chữ cổ Ấn Độ phổ biến trước Sanskrit) cùng với khá nhiều tượng thần, Phật, có nguồn gốc Ấn Độ, hàng trăm mảnh vàng, bạc, thiếc khắc hình tượng trưng Phật, thần Hindu giáo. Những chữ này khắc trên các vật như nhẫn, còn dấu (chữ chìm hoặc nổi) dùng làm chứng cứ thực xác tín trong giao dịch, buôn bán, hoặc là một lời tâm nguyện muốn bày tỏ cùng Thần, Phật: Om (kính cẩn), Deva (thần thánh), Yastavyam (hiến lễ), Dayadanam (biếu tặng), Bhaktavyam (tôn kính) V.V…

1c. Sự tiếp xúc với Ấn Độ, sự gia tăng quan hệ kinh tế với Ấn Độ, với nền mậu dịch thế giới và ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đã tiếp sức cho nhiều vùng ở Đông Nam Á thành lập được nhà nước của mình như nước Phù Nam trên châu thổ sông Cửu Long, nước Lâm Ấp, sau là Champa trên vùng ven biển miền Trung Việt Nam…

Hơn nữa, do sự phát triển kinh tế, do vị trí đứng giữa con đường buôn bán Đông Tây, Phù Nam lớn mạnh nhanh chóng, “đi chinh phục các nước láng giềng không chịu thần phục” rồi lại đóng tàu to vượt biển lớn chinh phục hơn 10 nước đến tận Kim Lân” mà đến nay ta biết Phù Nam đã làm chủ bán đảo Malaya sau khi chinh phục Đôn Tốn và Xích Thổ, chắn ngang đường buôn bán Đông Tây – Ấn Độ và Trung Hoa.

2

Giai đoạn II của quan hệ Ấn Độ – Đông Nam Á là 3 thế kỷ tiếp theo, thế kỷ IV-VI CN, được đặc trưng bởi: a/Làn sóng du nhập văn hóa Ấn Độ lần thứ hai, đợt truyền bá Phật giáo và văn hóa Phật giáo; b/Sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, đó là sự tăng trưởng trên phạm vi rộng lớn hơn của các vùng quần cư.

2a. Ở nước Phù Nam, sau đời vua thứ 9, Trúc Chiên Đàn có quan hệ bang giao với Trung Hoa, đời vua Mục Đế, năm 357, rồi đến một người Bà La Môn ở Ấn Độ tên là Kiều Trần Như sang làm vua Phù Nam, theo thư tịch Trung Hoa ghi chép.

Nhiều học giả cho rằng, Kiều Trần Như cũng là một cách phiên âm Kaundinya của Ấn Độ và gọi là Kaundinya II, nửa sau thế kỷ IV, để phân biệt với Kaundinya I tức Hỗn Điền, người tham gia lập nước Phù Nam cùng với Liễu Diệp – Sona, đầu thế kỷ I. Dù những phán đoán có đúng hay không thì việc một người Ấn Độ khác đến Phù Nam vào thế kỷ IV là điều có thể tin được.

Cùng với ông chắc còn nhiều người Ấn Độ khác đến Phù Nam tiếp tục truyền bá tôn giáo. Đạo Phật có cơ sở từ trước đã phát triển mạnh ở giai đoạn này. Cho nên trong khoảng 479-482 ở Quảng Đông (Trung Quốc) có tu viện Phật giáo Vasàli, ở đây “có một pho tượng lớn bằng đá được chở từ Phù Nam đến thờ”.

Năm 484, nhà sư Na Gia Tiên (có lẽ là Nagasena) lại được vua nước Phù Nam là Kaundinya Jayavarman phái đi sứ Trung Quốc. Tiếp đến, năm 503, nhà sư Mandala được vua Phù Nam cử đi tặng vua Trung Quốc một pho tượng Phật bằng san hô. Trong những năm 503-506, các nhà sư gốc Phù Nam là Sanghapala và Mandrasena đã sang Trung Quốc để dịch kinh (?). Khoảng những năm 535-545, một phái bộ Trung Quốc đến yết kiến vua Phù Nam xin được sưu tập kinh và đón một số các tăng Phù Nam đến Trung Quốc. Như thế, Phù Nam đã đóng vai trò một trung tâm Phật giáo quan trọng ở Đông Nam Á, và cả Tây Thái Bình Dương.

Ở Việt Nam, đã phát hiện được khoảng 20 pho tượng, 9 pho tượng gỗ, 3 pho tượng đồng, tất cả đều là kiểu dáng tượng Phật đứng (Buddhapad) được tạc và đúc theo cùng một phong cách, được gợi ý từ hình dáng Buddhapad trên điện thờ ở hang Ajanta 19, gọi là phong cách Hậu Gupta, thế kỷ V-VI.

Như thế, thế kỷ V-VI là giai đoạn của một làn sóng mới phát triển Phật giáo ở Đông Nam Á bắt nguồn từ ảnh hưởng mới của văn hóa Phật giáo thời Hậu Gupta (khoảng năm 320-550). Điều đó cũng cho thấy mối liên hệ thường xuyên giữa Ấn Độ và Đông Nam Á. Từ nguyên mẫu trên điện thờ chùa hang Ajanta và từ những giáo lý và Phật thoại, đặc biệt là sự tích Dipankara (Grunwedel, 1983), (Foucher, 1900), đã xuất hiện một phong trào và một phong cách Buddhapad Phù Nam, có niên đại thế kỷ V-VI được xác định niên đại phong cách, bằng phương pháp C14 đối với một số tượng gỗ và niên đại tầng văn hóa tìm thấy tượng, phản ánh một giai đoạn Phật giáo thịnh hành.

Phía Đông liền kề là xứ Kim Lân hay Đất Vàng (Suvarnabhumi) tức là Myanmar ngày nay, là nơi người Ấn chắc đã đến từ rất sớm nhưng dấu ấn văn hóa của họ, lại thấy được hơi muộn.

Phật giáo đi đến Thatơn ở sông Sittang và lần đầu tiên, ta thấy chữ Pali thuộc thế kỷ VI khắc trên một tấm bia đá, một cột đá ở hạ lưu sông Sittang. Một số điểm quần cư đã phát triển. Một thành thị đã hình thành ở thượng lưu sông Sittang, trên địa điểm gọi là Beihano, nơi có hai kiến trúc gạch tương đối lớn, được coi là hai ngôi chùa hay tu viện Phật giáo, cùng với 4 stupas và một bức tường gạch bao quanh. Dấu ấn Phật giáo ở đây được bắt đầu thấy từ thế kỷ VI.

Một địa điểm khác ở thượng lưu sông Irrawadi là Prome, một thị xã trên bờ sông, bên cạnh làng Hmawza, đã hình thành một thành thị cổ mà sách Trung Hoa gọi là Che-li-cha-ta-lo, và qua bi ký ta được biết là Kestra (Ruộng thiêng). Ở đây, người ta phát hiện được một tòa thành và một khu thành tương đối lớn, trong đó thấy một pho tượng Phật ngồi bằng đá, một ngôi chùa, một sputa, 6 bia đá khắc hình Phật theo những kiểu dáng, tư thế khác nhau, mấy phiến chữ khắc mấy đoạn kinh Phật bằng chữ Pali, ở chân một pho tượng lại có một dòng chữ Sanskrit cho biết một triều vua Chandra, trong đó có vua Jayachandravarman và một bản chữ khác lại cho biết ông vua này có người em là Harivikrama (biệt danh ghép của Siva và Visnu) qua đời năm 695.

Những tài liệu trên đây cho biết cư dân cổ Prome theo Phật giáo Tiểu thừa, ngành Sarvastivadin, và niên đại bắt đầu từ thế kỷ VI.

Qua đây, ta cũng biết văn hóa Ấn Độ truyền sang Myanmar có thể sớm nhưng thể hiện ra cũng vào khoảng thế kỷ VI, tức là ít nhiều muộn hơn những nước ở ven biển Đông, có lẽ vì đường biển là con đường buôn bán giao lưu văn hóa thuận tiện hơn và cũng có lẽ vì những thế kỷ đầu Công nguyên, người Ấn Độ còn phải ưu tiên cho việc làm ăn buôn bán với biển Đông.

Cùng với đạo Phật Tiểu thừa, cả chữ Sanskrit và Pali đều cũng được truyền bá, song vẫn có sự khác nhau: Sanskrit dùng để nói về thế quyền, về vua, còn Pali dùng để ghi kinh Phật.

Văn hóa Ấn Độ sang đến Đông Nam Á theo bước chân của các nhà tu hành và các nhà buôn, hay cùng với các nhà buôn. Nhưng chắc chắn không phải là một chiều mà cũng có cả con đường ngược lại, tức là người các nước Đông Nam Á đi sang Ấn Độ.

Trong lịch sử, ta biết một lần, Tô Vật, sứ của vua Phù Nam sang đến nước Đốn Tốn, một thuộc quốc của Phù Nam ở phía Bắc bán đảo Malaya, xuống thuyền ở cảng Đầu Câu Lợi (Takkola) đi sang Ấn Độ. Chắc rằng Tô Vật đi không chỉ có một mình và không chỉ có một lần này. Cũng chắc rằng không chỉ có những nhà ngoại giao, những sứ thần mà việc học chữ Phạn, chữ Pali ở những thời khác nhau, việc tạc tượng ở những thời khác nhau, nhất thiết cần phải có những học giả đi tu nghiệp, những nghệ nhân đi quan sát nguyên mẫu tượng Phật, Thần, đã trở về ứng dụng ở nước mình. Điều đó tạo thành sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa thường xuyên và trải ra trong suốt chiều dài thế kỷ.

3

Giai đoạn II đóng lại ở thế kỷ VII và giai đoạn III mở ra từ thế kỷ VII đến thế kỷ X với những biến đổi lớn ở Đông Nam Á và với những nét nổi bật sau đây:

3a. Thế kỷ VII là mốc đánh dấu bằng sự hưng khởi của Chân Lạp do ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, tạo điều kiện cho Chân Lạp vươn lên hùng mạnh để rồi chiếm lại Phù Nam.

Văn hóa Ấn Độ mở rộng ảnh hưởng trên địa bàn mới trong lục địa Đông Nam Á, là Chân Lạp. Nó cũng mở ra vùng hải đảo, biến nước Tam Phật Tề (Palembang) ở Đông Sumatra trở thành một trung tâm Phật giáo, thay thế vị trí Phù Nam trước đây, là nơi mà nhà sư Trung Quốc Nghĩa Tĩnh đã từng qua lại, dừng chân trên đường sang Ấn Độ.

3b. Phật giáo còn hưng thịnh cả ở đảo Java, có lẽ cũng được bắt nguồn từ vương triều Sailendra từ Phù Nam di cư sang.

Cùng với sự truyền bá giáo lý, đức tin, là cả kiến trúc Phật giáo Borobudur ở Đông Java. Borobudur là một phức hợp kiến trúc nhiều đền tháp, gắn với vương triều Phật giáo Sailendra mà thời cực thịnh của nó từ khoảng năm 750-850 sau CN, vừa gợi lại hình ảnh vòm tròn Sputa Sanchi ở Bắc Ấn Độ vừa mang đậm ý tưởng và phong cách riêng của cư dân cổ Đông Java thể hiện trong suy tư giáo lý, trong cảnh quan và bình đồ thiết kế Borobudur.

Borobudur không phải là ảnh hưởng đầu tiên của kiến trúc và kiến trúc Phật giáo Ấn Độ ở Đông Nam Á. Trên châu thổ sông Cửu Long, nước Phù Nam trước đây, có thể có nhiều chùa xây dựng hoặc dựng bằng gỗ đá, nhưng đến nay không còn giữ lại được dấu tích. Ở hạ lưu Chao Prây (Nam Thái Lan) còn dấu tích của vài kiến trúc sputa có bình đồ hình tròn, xây đá ong và gạch, được đoán định niên đại trước sau thế kỷ VI.

Kiến trúc Phật giáo khổng lồ và kỳ vĩ trong các chùa hang Ấn Độ thật khó bắt chước, nhưng các kiến trúc Hindu giáo đền tháp hình khối vững chắc ở Kanchinpuram Mamalaputra miền Nam Ấn Độ, từ thế kỷ VI-VII có thể là những gợi ý cho đền tháp Hindu giáo ở Đông Nam Á.

Các vua Champa có thể đã cho dựng đền thờ Hindu giáo bằng “vật liệu nhẹ” từ khoảng thế kỷ V-VII, nhưng nay không còn để lại dấu tích gì (H.Parmantier, 1948).6

Ngôi tháp xây gạch sớm nhất còn để lại đến nay là một cái nền, một phần thân tháp với cái vòm cửa sớm nhất và vào loại đẹp nhất là tháp Mỹ Sơn E1 có niên đại khoảng năm 750 sau CN.

Ở nước Chân Lạp trên vùng trung lưu sông Mê Kông cũng có một vài tháp gạch ở vào khoảng cùng thời gian này, nhưng nặng nề và thô kệch.

Tháp gạch Khơme có kiểu dáng tương đối đẹp là Prasat Damrei Krap có niên đại năm 802 SCN, chịu ảnh hưởng rất rõ của tháp Mỹ Sơn E1 của Champa đến nỗi có người nói đó là tháp Chăm xây trên đất Khơme.

3c. Thế kỷ VII, cùng với sự chuyển dịch của Phật giáo từ đất liền ra hải đảo là một làn sóng mới của văn hóa Hindu giáo. Đó là các tượng thần Hindu bằng đá, bằng đồng cùng có đặc điểm được gọi là phong cách “tiền Angco” thấy được trên đất Chân Lạp và cả ở châu thổ sông Cửu Long là đất Phù Nam bị Chân Lạp chiếm. Ở đây, các tượng thần Hindu giáo, nổi bật là Visnu tuân thủ đầy đủ các quy tắc tiêu tượng học Hindu giáo từ nguồn gốc Ấn Độ (về hình dáng thể hiện và các vật cầm v.v…) nhưng tiến triển từng bước tuần tự theo hướng bản địa hóa với những nét riêng độc đáo và sinh động.

Làn gió mới của văn hóa Hindu giáo cũng đến xứ sở Champa trong các thế kỷ VII-VIII, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều ngẫu tượng Linga, Yoni và nhiều hình tượng Siva.

3d. Một sự kiện có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống xã hội và văn hóa của Đông Nam Á trong giai đoạn này là sự xuất hiện chữ viết bản địa của các tộc người và quốc gia cổ ở Đông Nam Á.

Minh văn chữ Pali và nhất là chữ Phạn vần, Phạn văn Sanskrit ngày càng nhuần nhuyễn, tinh tế. Chẳng hạn, bia Champa Mỹ Sơn có niên điểm 658 CN dựng gần đền E6, khắc 2 mặt (mặt A: 27 dòng, mặt B: 28 dòng). Nhưng dù sao, Sanskrit không chỉ là văn tự khắc mà còn là ngoại ngữ, ngôn ngữ bác học, cần cho việc viết văn bia, bày tỏ tâm nguyện với thần thánh và chỉ phù hợp với trình độ và khả năng của một số ít người có học vấn cao, có điều kiện học tập, tu nghiệp đến nơi đến chốn. Nhưng nhà vua và cả các quan, các tăng lữ cũng có rất nhiều điều cần dân chúng biết, cần nói với nhau những chuyện đời thường bằng tiếng mẹ đẻ. Các học giả đã cải biến mẫu tự Sanskrit, xây dựng một hệ thống chữ viết để ghi tiếng nói bản địa của mình.

Khoảng cuối thế kỷ IV, chữ Chăm cổ được coi như là bắt đầu xuất hiện trên minh văn Đông Yên Châu, sau hơn một thế kỷ dùng chữ Sanskrit để ghi.

Ở Myanmar, chỉ ít lâu sau khi sử dụng Pali viết một đoạn Vinaya để khắc bia, cũng trong thế kỷ VI, người ta đã thấy một bài vị bằng đất nung gần Thatơn khắc chữ Môn cổ. Tiếp theo, ở chân bệ một pho tượng tìm thấy ở Prome có khắc một đoạn văn bằng cả chữ Sanskrit và chữ Pyu kể tên một số vị vua và cung cấp một niên điểm 695 liên quan tới một ông vua. Chính ở nơi đây, có nhiều tộc người, nhiều ngôn ngữ khác nhau, mà đã sáng tạo ra chữ Môn (thế kỷ VI), chữ Pyu (thế kỷ VII), còn chính chữ Miền (Myan) thì phải muộn hơn, đến thế kỷ VIII-IX. Chữ Khơme cổ xuất hiện lần đầu tiên năm 611 trên bia Angkor Borei; còn chữ Mã Lai cổ xuất hiện sớm nhất năm 686 trên minh văn Bangka.

Chữ Môn còn được dùng để viết các văn bia của người Môn Dvaravati, thế kỷ VII-VIII của người Môn ở lưu vực Se Mun, bình nguyên Khorat, cũng vào thế kỷ VII-VIII và người Môn ở vương quốc Haripunjaya, trên thượng lưu sông Chao Praya đến thế kỷ XII-XIII.

Giai đoạn III là một giai đoạn dài 3 thế kỷ, đầy ắp sự kiện và sẽ kết thúc bằng một làn sóng mới ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ.

3d. Vương triều Chola được thiết lập ở miền nam Ấn Độ, trở nên hùng mạnh vào thế kỷ X. Các vua của vương triều này tôn sùng Siva để thờ trong các đền, đặc biệt là Siva trong hình tượng Vua Vũ đạo Siva hay Nataraja, lập nên một trường phái nghệ thuật Chola độc đáo và nổi tiếng một thời. Văn hóa Đông Nam Á vẫn đang tiếp diễn dưới những hình thức và nhịp độ như vẫn có từ trước thì vương quốc Champa là nơi ở Đông Nam Á vốn duy nhất tôn sùng đặc biệt Siva, đã tiếp thu ảnh hưởng trường phái nghệ thuật Chola. Đến nay ta chưa hề biết một pho tượng đồng Nataraja nào được đúc tại chỗ ở Champa, giống kiểu Chola Ấn Độ, nhưng lại có 6 phù điêu Siva vua múa trên lá nhĩ mặt đền tháp.

Tất cả đều có niên đại thế kỷ XI, tức là gần như tức thời sau Chola, nhưng rồi sau đó lại lặng lẽ chấm dứt hoàn toàn.

Thế kỷ X còn được đánh dấu bằng hàng loạt sự kiện lịch sử rất có ý nghĩa: Vương quốc Campuchia thành lập với sự thống nhất hai dòng họ Bắc Nam dưới triều vua Rajendravarman II (944-968). Vương triều Indraputra Đồng Dương chấm dứt (982), dẫn tới sự thành lập vương triều Vijaya của Champa. Ở các nước khác cũng chuẩn bị có những sự thay đổi trong quá trình lịch sử.

4

Từ sau thế kỷ X, xu hướng bản địa hóa đã có từ khi chữ viết bản địa xuất hiện, từ nghệ thuật Đồng Dương Champa, lại càng phát triển hơn vì chính ở Ấn Độ cũng có sự thay đổi lớn lao: văn hóa truyền thống Hindu cổ điển sau hơn ngàn năm phát triển, đã suy giảm, để chuyển hóa, hòa nhập vào các nền văn hóa bản địa, địa phương ở ngay trên tiểu lục địa Ấn Độ.

Đến thế kỷ XII-khi thành lập Sultanat Delhi, Hồi giáo chiếm ưu thế trong đời sống xã hội-chính trị của Ấn Độ, thì tuy Ấn Độ vẫn giữ quan hệ với Đông Nam Á, nhưng quan hệ giao lưu văn hóa đã mang tính chất và nội dung khác xa thời kỳ “Hindu hóa”.

5

Đến nay, qua mấy thập kỷ phát triển của sử học Đông Nam Á, có lẽ không cần phải nhắc lại ý kiến của G. Coedès về tình hình Đông Nam Á trước ảnh hưởng của Ấn Độ đã “là những cộng đồng có một nền văn minh tương đối cao của chính mình”7 hoặc ý kiến của D.G.E. Hall về “Những nền văn hóa bản địa có đặc tính riêng hết sức rõ nét” của Đông Nam Á và “các nền văn hóa này đều phát triển theo hướng riêng biệt rõ nét” của mình.8

Không phải G. Coedès không thấy những nét riêng biệt, đặc thù nên ông cũng đã viết “dưới một lớp vécni Hindu, xã hội (bản địa) vẫn duy trì cái cốt yếu của những đặc trưng riêng của mình” (tr.40).

Tuy nhiên, D.G.E. Hall vẫn phản đối mọi cách gọi “Ấn Độ bên ngoài”, “Ấn Độ rộng lớn hơn”, “Đại Ấn Độ”, “Thế giới Ấn Độ hóa hay Hindu hóa”, có ý hạ thấp cái cốt cách riêng của Đông Nam Á. Mặc dù thế, gần đây, O.W. Wolter (1982) cũng phản đối cả D.G.E. Hall, và D. Coedès vì vẫn trình bày Đông Nam Á là một khu vực, một khối đồng nhất, thống nhất, mà không thấy tính đa dạng, phân tán của Đông Nam Á.9

Dù sao, ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ ở Đông Nam Á là một điều có thể thấy hiển nhiên, nhưng nhiều tác giả phân biệt, có vùng chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, vùng chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Do đó, một vấn đề đặt ra là tại sao lại như thế, tại sao lại có vùng Ấn Độ thâm nhập được mà văn hóa Trung Quốc không ảnh hưởng được? G. Coedès giải thích rằng “đó là sự khác nhau căn bản của các phương thức thực dân hóa giữa người Trung Hoa và người Hindu; “Người Trung Hoa dùng quân sự xâm chiếm, còn các quan chức thì truyền bá văn minh”. “Còn phương thức thâm nhập của người Hindu thì thường xuyên hòa bình…” (1.41).

Điều đó có chăng chỉ đúng ở nơi nào người Hán xâm chiếm và đô hộ. Nhưng mặt khác, ở nhiều nơi, nhiều thời, người Trung Hoa đã tiếp xúc trước (như ở Borneo, Palembang, Sumatra) hoặc gần như đồng thời với người Ấn Độ (Phù Nam, Xích Thổ, thời Đồng Dương ở Champa…), nhưng ở những nơi này, nền văn hóa Trung Quốc vẫn không đứng chân được. Đó là vì sự khác nhau quá lớn giữa văn hóa Trung Quốc và văn hóa Đông Nam Á. Một đẳng là chế độ quan liêu, tập quyền, chuyên chế, đứng đầu là thiên tử, tôn sùng Nho gia và tôn thờ Khổng Tử. Điều đó hoàn toàn xa lạ với một xã hội còn nhiều tàn dư của quan hệ công xã nguyên thủy, của chế độ mẫu hệ, và sự tôn thờ đa thần còn đang thịnh hành. Nếu không bị áp đặt bằng vũ lực và bằng chế độ quan liêu, và nếu như được tự do lựa chọn, thích ứng, thì rõ ràng là thiết chế xã hội – chính trị và cả hệ thống tôn giáo – tín ngưỡng của Ấn Độ tỏ ra thích hợp hơn với thế giới Đông Nam Á.

(Trích sách Một số chuyên đề lịch sử thế giới)

Chú thích

  1. Ian G. Glover: Early trade between India and SEA-a link in development of a world trading system, Oce Paper N°6-Unv. Of Hull, 1989. ↩︎
  2. Ian G. Glover: The Exvacation at P’ong Tiik, J.Siam Soe. XXI, p.195-209-1927. ↩︎
  3. Hiện nay một pho tượng ở Bảo tàng An Giang, một ở Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh ↩︎
  4. Filiozat : L’scription dite de Võ Cạnh, BE.F.E.O LV-1, 1969. ↩︎
  5. Mỹ Sơn I, chữ Chợ Dinh, chữ Hòn Cụt. ↩︎
  6. . Grunwedel: Buddhistisch Kunst in Indien, 1982. A.Foucher: Etude sur L’iconographie bouddhique de l’inde après dé documént nouve, 1900. ↩︎
  7. H. Parmantier: Art Architectual hindou dans L’inde et en Extrême Orient, Paris, 1948. ↩︎
  8. Ian G. Glover: Histoire ancienne des Etats Hindouises d’Extrême Orient, Hà Nội, 1944, p. 18. ↩︎
  9. D.G.E. Hall: Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.20. ↩︎
Đánh giá post

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s