Thời cổ đại nói trong bài viết này là chỉ một khoảng thời gian dài từ thời nhà Hạ, nhà Thương, thời Xuân Thu Chiến Quốc cho đến hết đời nhà Hán. Là khoảng thời gian mà Trung Quốc thường bị chia năm xẻ bảy. Cũng là các giai đoạn lịch sử nổi bật về các kỹ thuật tác chiến và có nhiều nhân vật nổi tiếng được biết đến hơn cả. Trong suốt thời kỳ này, chiến tranh tại Trung Quốc chủ yếu cho các mục đích chính trị: tranh giành quyền kế vị, soán ngôi, công thành chiếm đất.
Theo thời gian, quân số tham chiến tăng từ khoảng vài vạn đầu thời nhà Chu cho tới vài chục vạn khi sang đến đời nhà Hán. Kỹ thuật tác chiến ngày càng bài bản, sức hủy diệt ngày càng tăng. Vũ khí cũng thay đổi và cải tiến dần khi xuất hiện đồ sắt.
Suốt thời cổ đại của Trung Quốc, chiến tranh diễn ra liên miên giữa các tiểu quốc và các nước chư hầu, giữa Trung Quốc thống nhất với các bộ tộc di địch, rồi lại giữa các thế lực quân phiệt xâu xé lẫn nhau trong thời loạn.
Tuy vẫn có những khoảng thời gian thái bình, nhưng như hầu hết các xã hội cổ đại, thời bình chỉ là những khoảng lặng ngắn ngủi của bản hòa tấu chiến tranh bất tận. Dân chúng là tầng lớp phải gánh chịu sức nặng chiến tranh, họ chỉ có thể lựa chọn giữa chiến hoặc chết, nhập ngũ hoặc nô dịch, đánh thắng và chiếm chiến lợi phẩm hoặc thua trận và mất tất cả.
Thái độ với chiến tranh
Khác với các nền văn minh phương tây, người Trung Quốc hầu như không ca ngợi Chiến tranh. Có một số lý do cho chuyện này.
Trước tiên là vì tư tưởng Nho giáo do Khổng Tử chủ trương, mà về sau trở thành tư tưởng chủ đạo cho nền chính trị của các triều đại Trung Hoa. Tư tưởng này đề cao một xã hội hài hòa và phê phán chiến tranh như một tác nhân gây hỗn loạn.
Truyền thuyết và thần thoại dân gian, tác phẩm văn chương và nghệ thuật cũng ít chọn chủ đề chiến tranh. Ngay cả cuốn Binh Pháp Tôn Tử nổi tiếng cũng cảnh báo ngay từ trang đầu rằng “Không nước nào hưởng lợi nếu chiến tranh kéo dài”.
Nếu xét ra, mọi tầng lớp trong xã hội Trung Quốc cổ đại đều không ủng hộ chiến tranh và không muốn có chiến tranh.
Nhà Hán (206-220) thống nhất, và các triều đại lớn sau này thường chọn chính sách vỗ về ngoại bang bằng vàng bạc, bằng văn hóa, để giữ yên bờ cõi chứ ít khi chủ trương bạo lực, trừ khi đó là điều không thể tránh khỏi. Và nếu có chiến tranh họ cũng thiên về phương án dùng binh lính nước ngoài nếu có thể.

Không chỉ giới sĩ phu, mà giới quý tộc cũng không ủng hộ chiến tranh vì họ nghĩ Trung Hoa là nước văn minh, không nên “đôi co” với các xứ mọi rợ.
Giới bình dân, mà phần lớn là nông dân, lại càng không thích chiến tranh, vì khi đó họ sẽ thành nguồn cung chính về mặt vật lực và nhân lực: đóng thuế, đi phu, đi lính, và thường khi đất đai nhà cửa đều mất hết.
Còn với hoàng đế thì chiến tranh cũng có thể là một thảm họa vì ông ta sẽ có nguy cơ mất đất, mất dân, mất quần thần, và mất mạng nếu thất bại.
Tuy thế nhưng chiến tranh ở Trung Hoa vẫn nhiều như bất kỳ xứ sở nào khác, tại bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử.
Vũ khí
Vũ khí tác chiến của người Trung Quốc cổ đại thay đổi và được cải tiến qua từng thời kỳ.
Cung tên là loại vũ khí tầm xa phổ biến nhất, và mỗi đạo quân thường luôn có đội tiễn thủ yểm trợ. Từ thời nhà Thương (1600-1046 TCN) quân xạ tiễn đã là binh chủng chính quy có vai trò cực kỳ quan trọng.
Khi giao chiến, các đội tiễn thủ sẽ mở màn bằng chiến thuật mưa tên để tiêu diệt bớt lực lượng tiên phong của đối phương. Sau đó họ sẽ yểm trợ hai bên cánh cho bộ binh xung trận, hoặc đánh chặn hậu cho rút lui. Kỵ binh cũng được tranh bị cung tên như vũ khí cơ bản.
Nỏ là một biến thể của cung tên và là món vũ khí đặc sản của người Trung Quốc, được sử dụng từ thời Chiến Quốc. Nhà Hán có hẳn một đội nỏ thủ chiến đấu rất hiệu quả trước các bộ lạc di địch phương bắc. Tương tự đội tiễn thủ, đội nỏ thủ cũng hỗ trợ bọc cánh và đánh chặn cho bộ binh tiến thoái.
Qua thời gian, nỏ được cải tiến dần dần để nhẹ hơn, có thể dùng một tay, bắn được nhiều mũi tên cùng lúc, tầm bắn xa hơn, nhắm chuẩn hơn, và sức xuyên thấu mạnh hơn. Tên nỏ cũng được thiết kế để có thể tự động nạp liên tục nhờ khớp xoay.
Không chỉ dùng trong tấn công, nỏ còn là vũ khí thủ thành hiệu quả.

Kiếm xuất hiện tương đối muộn trên các mặt trận cổ đại tại Trung Quốc, khoảng từ năm 500 TCN, và tầm quan trọng luôn đứng sau cung nỏ. Tiền thân của kiếm là loại dao lưỡi dài đầu nhọn dùng để đâm, xuyên. Ban đầu kiếm được làm bằng đồng, về sau được rèn bằng sắt.
Đời Hán, kiếm trở nên hiệu quả hơn nhờ kỹ thuật luyện kim cải tiến giúp nó sắc bén và cứng cáp.
Ngoài ra bộ binh Trung Quốc còn sử dụng nhiều loại vũ khí khác như kích, giáo, lao, dao, và rìu chiến.
Pháo binh xuất hiện lần đầu vào đời Hán với các loại máy bắn đá, chủ yếu được dùng phá thành. Phe thủ thành cũng dùng đế phản công.
Các loại máy bắn đá đời đầu chủ yếu là kiểu kéo căng dây rồi bắn, phiên bản dùng cơ chế bập bênh tới thế kỷ 13 mới có. Vật liệu đạn khá phong phú, bao gồm đá, kim loại, gốm, đạn lửa dùng dầu cá như ta thấy trong phim Xích Bích, Khổng Minh dùng đốt thuyền Tào Tháo, và từ thời nhà Tống (960-1279) bắt đầu sử dụng thuốc súng làm đạn. Nhưng thuốc súng được sử dụng rất hạn chế trong các loại vũ khí, chủ yếu chỉ dùng làm đạn pháo. Tới thế kỷ thứ 13 mới thấy nó được dùng làm bom, tức là khi nổ sẽ làm văng ra các mảnh sắt nhỏ.
Giáp
Khi cung nỏ được cải tiến độ sát thương thì giáp trụ đương nhiên cũng phải thay đổi để tăng sức đề kháng. Loại áo giáp cổ xưa nhất làm bằng da hổ, đời Thương đã biết chế biến để tăng độ cứng cho nó, dùng che ngực và lưng, có thể chống được tên bắn thời đó.
Đến thời nhà Chu (1046-256 TCN) thì người ta chế ra áo giáp kiểu giống cái váy bây giờ, làm bằng da thuộc hoặc các miếng đồng gắn lại với nhau bằng vít hoặc tắc-kê. Có thể thấy rõ cấu tạo kiểu giáp này khi quan sát các bức tượng chiến binh bằng gốm trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng.
Từ thời nhà Hán áo giáp được làm bằng sắt.

Ngoài áo giáp thì binh sĩ còn dùng khiên và mũ để tăng sức bảo vệ. Mũ luôn đi với áo, che chắn tai và phía sau cổ. Và vì thời nào người ta cũng chuộng cái đẹp nên giáp mũ thường được trang trí đủ loại tùy gia cảnh và thân phận người mặc.

Lính chiến đấu trên xe không cần vận động nhiều nên thường mặc loại giáp riêng phủ kín người. Kỵ binh thì có giáp che chân ngựa, và đôi khi là cả con ngựa cũng được phủ giáp.
Chiến xa và kỵ binh
Chiến xa được sử dụng rất sớm trên các mặt trận cổ đại của Trung Quốc, từ thời Xuân Thu (khoảng 1250 TCN), và trở nên thịnh hành vào khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 5 TCN.
Ban đầu chiến xa chỉ dành cho cấp chỉ huy trên chiến trường, có cờ quạt dù lọng xung quanh để tăng vẻ tôn nghiêm và khí phách. Dần dần chúng được cải tiến thành vũ khí xung trận, với chức năng chính là đi càn, đánh thốc vào trung quân của địch tạo thuận lợi cho bộ binh tràn lên. Chiến xa có loại hai ngựa, ba ngựa, hoặc bốn ngựa, tùy theo công năng nhắm đến: loại gọn nhẹ, chạy nhanh để truy kích, loại bọc đồng hạng nặng để công phá, loại tích hợp cung nỏ để tàn sát như kiểu súng máy bây giờ, hoặc có loại chở theo đài cao cho tướng lĩnh ngồi trên quan sát trận địa. Xa binh cũng có thể truy đuổi quân địch rút chạy.
Nhưng chiến xa chỉ hiệu quả khi tham chiến trên mặt trận rộng lớn, bằng phẳng, gặp địa hình gồ ghề, chật hẹp thì mất hẳn tác dụng. Tính cơ động rất thấp, cồng kềnh và tốn kém. Vậy nên khi người ta khám phá ra thuật cưỡi ngựa đánh trận, chiến xa ngap lập tức được thế bằng kỵ binh, khoảng từ thế kỷ thứ 4 TCN. Tương truyền Tôn Tẫn là nhân vật đầu tiên vận dụng thuật cưỡi ngựa trong thực chiến.
Ngoài kỹ năng cưỡi ngựa điêu luyện, kỵ binh còn phải học cách thao tác nhuần nhuyễn các loại vũ khí trong điều kiện di chuyển tốc độ cao và giữ thăng bằng.
Vì ban đầu chưa có yên cương nên các kỹ năng ấy rất khó thực hiện, vậy nên đến đời nhà Hán khi yên cương ra đời thì kỵ binh mới thực sự trở thành binh chủng chủ lực trong một đạo quân. Chức năng chính của chúng là bọc sườn cho bộ binh, đánh phá hàng ngũ quân địch, và truy kích đối phương.
Đọc thêm:
Trận chiến Trường Bình và thắng lợi của nước Tần
Ngũ Hồ Loạn Hoa – những mầm họa từ thời Tam Quốc
Bàn về cửu đỉnh Trung Hoa
Thành trì
Từ thời Xuân Thu mỗi tiểu quốc đã biết xây thành đắp lũy xung quanh lãnh thổ của mình với mục đích tự vệ. Thành luôn có hào bao quanh. Khác với các pháo đài bằng đá ở châu Âu, thành lũy Trung Quốc đắp bằng đất nên đến nay không còn cái nào tồn tại.
Các loại binh thư cổ của các danh tướng Trung Quốc cổ đại bàn nhiều đến kỹ thuật vây thành, công thành như một trong những chiến lược chính trong chiến tranh.
Đời Hán, tường thành cao khoảng sáu mét, có tháp canh, vọng gác, bờ thành, và nghi môn. Tường thành được cải tiến qua các triều đại để chống chọi với thời tiết và sức công phá của đạn pháo, và các chiến thuật phá thành của địch như đào hầm, thủy công. Người ta còn biết trộn mảnh gốm, cành cây, cát vào vật liệu đắp thành để tăng độ bền và cứng.
Hào có thể rộng tới 50m, ngập nước, và thậm chí có thành còn xây hai ba vòng hào để tăng sức kháng cự trước các cuộc vây thành kéo dài.
Không chỉ xây thành bảo vệ lãnh thổ, người Trung Quốc cổ còn xây thành dọc biên giới để đối phó với các bộ tộc xâm lăng. Từ thời Chiến Quốc người ta đã làm như vậy. Khi nhất thống giang sơn, Tần Thủy Hoàng hạ lệnh xây Vạn Lý Trường Thành bao bọc biên giới phía bắc với cùng lý do ấy. Trường thành nổi tiếng này tiếp tục được duy trì và mở rộng bởi các triều đại nối tiếp về sau, cuối cùng dài tới 5000km kéo dài từ tỉnh Cam Túc đến Liêu Đông.
Tổ chức và chiến lược
Trung Quốc nổi tiếng với mưu lược và binh pháp dùng trong chiến tranh, đến mức có hẳn một tầng lớp mưu sĩ được các bên tham chiến tuyển dụng. Nổi tiếng nhất về thuật dùng binh và mưu lược là thời Xuân Thu Chiến Quốc, khi Trung Quốc còn phân mảnh thành nhiều tiểu quốc, liên miên chiến tranh với nhau.
Nguồn cung binh lính chủ yếu là dân chúng, họ bị buộc nhập ngũ, hoặc phải đi phu dịch mỗi khi xảy ra chiến sự. Tù nhân cũng có thể được trưng binh. Con em tầng lớp quý tộc cũng thường tình nguyện nhập ngũ và chiến đấu trong những binh chủng cấp cao như kỵ binh. Họ ra sa trường để tìm kiếm danh dự và cơ hội tiến thân.
Tướng lãnh là tầng lớp chuyên nghiệp được đào tạo bài bản. Họ phải nắm rõ các loại binh thư yếu lược, có kiến thức về tác chiến, dụng binh, ngoại giao, và dùng người.
Lãnh đạo cao nhất của bất kỳ đội quân Trung Quốc cổ đại nào luôn luôn là vua, hoặc quân chủ của một nước. Ông ta có thể hạ lệnh bất kỳ và nguyên soái bắt buộc phải tuân lệnh bất kể tình hình chiến sự đang diễn ra thế nào. Chẳng hạn như Khổng Minh đem quân đi đánh Kỳ Sơn, đến thời điểm thuận lợi có thể giành phần thắng thì lại bị nhà vua hạ chiếu gọi về, ông phải bỏ hết tất cả để thi hành chiếu chỉ.
Tổ chức quân đội mỗi thời mỗi khác, mỗi nhà mỗi kiểu, và thường rất phức tạp với đủ các chức vụ. Nhưng nhìn chung thì khi lâm chiến thường sẽ có bộ binh, kỵ binh, đội cung nỏ. Các lại binh chủng này lại chia ra thành tiền quân, hậu quân, trung quân, tả quân, hữu quân. Mỗi tướng quân xung trận thường có kỳ hiệu để định danh cho đoàn quân của mình.
Ngoài ra còn có đội nhạc binh thổi kèn đánh trống khi hành quân và xung trận, để tăng hào khí cho binh lính.
Hậu cần là khâu quan trọng trong mọi chiến dịch và có một bộ phận chuyên lo việc này, mà trong đó quan trọng nhất là lương thực. Khi có kế hoạch động binh thì lương thực phải đi trước, và ở mỗi điểm đóng quân theo kế hoạch phải chuẩn bị sẵn kho lương. Trong trận Quan Độ, Tào Tháo dùng kỳ mưu đốt kho lương của Viên Thiệu, nhờ đó dẫn tới chiến thắng chung cuộc, thiết lập thế độc tôn ở Trung Nguyên.
Các triều đại Trung Quốc thường dùng hổ phù để xác định quyền điều hành quân đội, và lệnh tiễn để truyền chỉ của nhà vua. Hổ phù là một tấm thẻ bài cắt làm hai nửa, nhà vua giữ một nửa, nguyên soái lĩnh mệnh giữ một nửa. Nếu không có hổ phù thì không thể điều binh khiển tướng. Khi nhà vua cần truyền lệnh khẩn cấp cho thống soái ngoài mặt trận, ngài sẽ trao lệnh tiễn, là một thứ mũi tên, cho sứ giả mang đi kèm theo chỉ dụ. Nhận được lệnh tiễn thống soái phải thi hành ngay bất kể tình hình chiến sự đang như thế nào. Hổ phù và lệnh tiễn đã được áp dụng từ thời nhà Chu.
























































