Sử Trung Quốc

Ngũ Hồ Loạn Hoa – những mầm họa từ thời Tam Quốc

Nối tiếp thời Tam Quốc là nhà Tấn. Nhưng cũng vắn số vì nạn tranh đoạt quyền lực. Kết quả cuối cùng đẩy Trung Hoa vào thời loạn Ngũ Hồ kéo dài gần 100 năm

phan chia trung hoa thoi loan ngu ho

Giữa 90 năm phân tranh của thời Tam quốc (190-280) và 135 năm thảm khốc “Ngũ Hồ loạn Hoa” (304-439) là sự ra đời của nhà Tây Tấn (265) và 15 năm “Bát Vương chi loạn” (291-306). Nhà Tây Tấn “nát” như thế nào, ông Thẩm Khởi Vĩ trong “Kể chuyện lưỡng Tấn, Nam Bắc triều” đã nói rõ. Đại loại, “bọn vua tôi mở nước không hợp cách” này sau khi diệt Ngô, thống nhất Trung Hoa rồi thì bắt đầu ăn chơi sa đọa, trong thì đánh nhau tranh giành quyền lực, ngoài thì không xử lý được vấn đề các sắc dân thiểu số biên giới phía bắc. Kết quả là loạn Bát Vương còn chưa kết thúc thì năm 304, Lưu Uyên (người gốc Hung Nô) đã lập nước Hán Triệu ở Sơn Tây; cũng năm đó Lý Hùng (người Đê) lập nước Thành Hán ở Tứ Xuyên.

Chính quyền Tây Tấn dĩ nhiên phải chịu trách nhiệm chính cho “ngũ Hồ loạn Hoa”. Tuy nhiên, liệu có mầm họa nào đã được gieo từ thời Tam Quốc hay không?

Bóng dáng của “Tây Nhung”, “Bắc Địch” thời Tam Quốc

Biên giới phía bắc Trung Quốc rất dài, tận 5000km theo hướng đông – tây. Các sắc dân thiểu số cũng phân bố theo từng khu vực nhất định dọc theo quan ải. Người Khương, Đê chủ yếu tập trung ở Lương châu (khu tây bắc, Thiểm Tây – Cam Túc hiện nay), người Ô Hoàn xuất hiện nhiều ở U châu (khu đông bắc, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hắc Long Giang hiện nay), còn Tịnh châu (khu phía bắc, Sơn Tây hiện nay) là địa bàn chính của người Tiên Ti (ở Tịnh châu còn có người Nam Hung Nô – vốn thần phục nhà Hán từ sớm và cũng được sắp xếp cho định cư ở đây).

Đọc Tam Quốc Chí của Trần Thọ, ở hành trạng của các nhân vật có phạm vi hoạt động ở phía bắc, đôi khi chúng ta sẽ bắt gặp bóng dáng của các sắc dân thiểu số – tổ tiên của “ngũ Hồ loạn Hoa” hai trăm năm sau đó. Chẳng hạn:

+ Trước khi vào Trung Nguyên làm loạn, Đổng Trác từng kết giao với các cừ soái người Khương ở Lương châu, cũng từng chiến đấu với Khương nhân, Hồ nhân nơi đây.

+ Khiên Chiêu (cựu tướng của Viên Thiệu, về sau hàng Tào Tháo) từng giữ chức Thái thú Nhạn Môn, Hộ Tiên Ti hiệu úy, nhiều năm đóng quân ở khu vực của người Tiên Ti, là nhân vật tề danh cùng Điền Dự – Hộ Ô Hoàn hiệu úy. Điền – Khiên nhị tướng đóng ở biên giới bắc và đông bắc, nhiều lần phối hợp cùng nhau, chuyên xử lý các xung đột với người Ô Hoàn và Tiên Ti.

+ Ở biên giới tây bắc, các tướng lãnh mang trọng trách trấn áp người Khương là Quách Hoài, Đặng Ngải. Đây là hai nhân vật được nhắc đến nhiều trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, xuất hiện khá nhiều trong các chiến dịch chống Thục Hán bắc phạt.

Tham gia vào Tam Quốc phân tranh

Các sắc dân thiểu số dần di chuyển xuống phía nam thông qua nhiều con đường:

(1) Thần phục vua Hán và được cấp đất định cư (như người Nam Hung Nô được vua Hán và sau này là Tào Tháo cấp đất ở Tịnh châu. Mức độ Hán hóa của nhóm người này khá cao, nhiều người lấy họ Lưu của vua Hán làm họ của mình. Lưu Uyên – vị vua lập quốc của nhà Hán Triệu là ví dụ);

(2) Di cư tự phát để tìm kiếm những đồng bằng màu mỡ hơn (chẳng hạn người Đê, Khương ở Lương châu đã di dời vào nội địa và sống tản mát ở Xuyên Tây, Lũng Tây sau khi Đông Hán diệt vong. “Nhiều bộ lạc đã tiếp nhận văn hóa Hán, đổi thành họ của người Hán và chuyển sang sản xuất nông nghiệp” (thay vì chăn thả kiểu du mục như trước kia);

(3) Tấn công người Hán, xâm nhập phía nam Trường Thành cướp bóc (Người Ô Hoàn ở U châu cuối thời Đông Hán là một ví dụ. Sau khi Công Tôn Toản đánh dẹp không xuể, tông thất Lưu Ngu được cử đến để khuyến dụ sắc dân này).

Dù là bằng con đường nào, các sắc dân thiểu số cũng hiện diện trong các xung đột quân sự thời Tam Quốc. Chẳng hạn, khi cuộc chiến Viên – Tào chưa ngã ngũ, Viên Thượng đã từng cho người liên hợp cùng Thiền Vu người Hung Nô vào cướp Hà Đông. Và khi Viên Thượng, Viên Hy khi bị Tào Tháo đánh bại đã rút chạy về phía đông bắc để nương nhờ người Ô Hoàn. Sở dĩ nhà họ Viên xem người Ô Hoàn là chỗ dựa sau cùng là bởi Viên Thiệu trước đó đã từng phủ dụ người Ô Hoàn ở ba quận Thượng Cốc, Liêu Tây và Hữu Bắc Bình, “ban ân sủng mà thu lấy quân kỵ tinh nhuệ của họ”. Thiền vu Đạp Đốn của Ô Hoàn từng giúp Viên Thiệu trong trận chiến đánh hạ Công Tôn Toản. Lực lượng kỵ binh tinh nhuệ này sau đó Tào Tháo thu nạp, “người Ô Hoàn ở ba quận trở thành quân kỵ nổi danh thiên hạ”.

Các quân phiệt thời Tam Quốc nhanh chóng nhận ra tiềm năng của các sắc dân thiểu số, đặc biệt là kỵ binh. Không chỉ có Viên Thiệu hay Tào Tháo để mắt đến kỵ binh Ô Hoàn, quân phiệt đông bắc cát cứ Liêu Đông là Công Tôn Uyên cũng từng phong quan chức, trao ấn tín cho Thiền vu người Tiên Ti, qua đó dụ dỗ họ đánh phá biên giới của Tào Ngụy. Ở phía tây bắc, Mã Siêu cũng đã từng liên hợp với người Khương, người Đê để chống lại Tào Tháo. Sau này, khi Khương Duy bắc phạt, Tam Quốc Chí cũng ghi nhận “mỗi lần bắc chinh, người Khương, người Hồ xuất các thứ da ngựa trâu dê cùng thóc lúa giúp lương cho quân”.

Toàn cảnh sát hại công thần của Chu Nguyên Chương
10 đại gian thần khét tiếng thời Tống
Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ: Ngoài “Lực bạt sơn hề khí cái khế” còn có gì?

Mầm họa lộ rõ

Các sắc dân thiểu số có trình độ học vấn cực kỳ thấp, cũng khá xa lạ với các khái niệm và kỹ năng tác chiến. Họ thường được mô tả bằng hai chữ “ô hợp”, là đội quân thiếu trang bị, ít sĩ khí (đánh “thuận chiều” – lấy nhiều hiếp ít – thì còn được, nhưng nếu bị ngăn trở, gặp trúng đối thủ khó nhằn, thì quân tâm cũng dễ tan rã). Có thể thấy rõ điều này trong trận chiến giữa liên quân Hàn Toại và Đê vương Thiên Vạn với Hạ Hầu Uyên tại Kim Thành. Dù cũng là kỵ binh, nhưng khi phải so đọ chính diện cùng “chuyên gia kỵ binh hàng thật giá thật” của Tào Ngụy, thì quân Khương Đê dễ dàng tan vỡ. Dù là vậy, việc liên tục tham gia vào chiến trận cũng giúp cho các sắc dân thiểu số tích lũy được kinh nghiệm. Họ bắt đầu khôn ngoan hơn và cũng có được những chiến thắng nhất định. Trần Thọ mô tả trong “Ô Hoàn, Tiên Ti, Đông Di truyện” rằng: “Họ mấy lần xâm phạm biên hiểm cướp bóc ven ải, hai châu U, Tinh khốn khổ vì bọn chúng; Điền Dự bị vây ở Mã Thành, Tất Quỹ thua bại ở Hình Bắc”.

Không chỉ tích lũy thêm kinh nghiệm chiến đấu, các sắc dân thiểu số còn nhận được một số lợi ích khác trong quá trình Tam Quốc phân tranh. Chiến loạn đã làm cho nhiều người Hán phải chạy loạn lên biên giới phía bắc, nhiều người đã quy thuận các Thiền vu, và “dạy làm binh khí khiên giáp, lại thêm một chút chữ nghĩa”. Cơ sở văn hóa và vũ trang được tiến thêm một bước về chất là tiền đề cho những họa hoạn sau này. Thiền vu Kha Bỉ Năng người Tiên Ti dựa vào thuận lợi này đã tiến hành “dạy dỗ cai quản bộ chúng, bắt chước người Trung Quốc, ra vào săn bắn, dựng lập cờ trướng, lấy tiếng trống làm hiệu lệnh tiến lui”. Các quy tắc tác chiến, thậm chí chiến lược – chiến thuật đã ngày càng được nâng cấp trong quân đội Khương Hồ, Tiên Ti.

Đến thời Tây Tấn, đã có những quân nhân tộc người thiểu số làm quan lâu dài trong triều đình, mà Lưu Uyên (gốc Hung Nô) là một ví dụ điển hình. Khi loạn Bát Vương nổ ra, dã tâm của các quý tộc người thiểu số cũng manh nha. Cục diện phân liệt điên đảo đã mở ra cơ hội quý như vàng để họ thay thế khoảng trống quyền lực mà những người chủ thiên hạ vô dụng họ Tư Mã đã để lại. Năng lực và chất lượng quân đội được nâng cao dần dần kể từ thời Tam Quốc là điều kiện cần, giúp đảm bảo cho những thắng lợi trên chiến trường. Không chỉ có năng lực quân sự; việc Lưu Uyên truy tôn Hậu chủ Lưu Thiện nhà Thục Hán, lấy quốc hiệu là Hán, xưng là con cháu của Lưu Bang – qua đó chiếm được sự ủng hộ nhất định của quần chúng, đã cho thấy đầu óc chính trị cao minh của ông ta như thế nào. Nếu là vào thời Tam Quốc, có ai dám hình dung một vị Thiền vu Hung Nô hay Tiên Ti lại có đầu óc chính trị sắc bén như vậy?

Không phải là không có người nhận ra những mầm họa này. Lúc Lưu Báo (cha của Lưu Uyên) trở thành người đứng đầu “các bộ lạc rợ”, Danh tướng Đặng Ngải – đệ nhất công thần diệt Thục của Tào Ngụy –đã đề xuất với Tư Mã Sư về chiến lược kiềm chế ngoại tộc, tập trung vào 3 ý chính:

(1) Bắt Thiền vu ngoại tộc phải vào chầu (một dạng giữ làm con tin). “Người Khương Di mất thống soái, sẽ hợp tan vô chủ. Vì Thiền Vu ở trong cõi, vạn dặm theo phép tắc”.

(2) Chia tách Hung Nô, để làm suy yếu ngoại tộc. “Thần nghe nói bộ lạc của Lưu Báo có người Hồ làm phản, ta nên nhân lúc họ phản cắt thành hai nước, để chia rẽ thế lực của họ”.

(3) Phong thưởng cho ngoại tộc, để họ ra sức vì người Hán. “Khiến họ xa rời quốc thổ làm yếu thế giặc, truy xét công lao cũ của họ để gia phong, khiến họ ra sức vì nước, đấy là kế giữ biên cương lâu dài vậy”.

Đây là những giải pháp khá hợp lý, Tư Mã Sư cũng tán thưởng (nhưng không chắc là có áp dụng sau đó không). Chỉ tiếc cho ông ta là đám con cháu vô dụng lại không hiểu được các chính sách này, dẫn đến kết cục thê thảm cho người Hán với 135 năm thảm khốc của “Ngũ Hồ loạn Hoa”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Cát Kiếm Hùng, Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc
  • Thẩm Khởi Vĩ, Kể chuyện lưỡng Tấn, Nam Bắc triều
  • Trần Thọ, Tam Quốc Chí
4.7/5 - (4 votes)

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s

Leave a Comment