Lịch Sử Châu Á

Đế Chế Mông Cổ chinh phạt châu Âu

Quân đội đế quốc Mông Cổ bách chiến bách thắng, trong chuỗi chiến tích của họ thì châu Âu là một phần vẻ vang

mong co chinh phat chau au

Những cuộc xâm lược của người Mông Cổ vào Nga và Đông Âu thoạt đầu chỉ là một cuộc đột kích ngắn vào năm 1223 sau Công nguyên, nhưng sau đó tăng quy mô với một chiến dịch lớn hơn nhiều từ năm 1237 đến năm 1242. Người Mông Cổ dường như xuất hiện từ hư không, nhanh chóng mang danh là ‘kỵ binh của quỷ’, họ liên tục giành chiến thắng, cuối cùng tiến xa về phía tây tới tận thành phố Wroclaw của Ba Lan.

Các thành phố lớn như Tbilisi, Kiev và Vladimir sụp đổ. Khi tiến đến sông Danube, họ tàn phá các thành phố Buda, Pest và Gran (Esztergom) của Hungary. Cả người Nga lẫn các cường quốc châu Âu lớn đều không thể tổ chức lực lượng đủ mạnh để đối phó với cuộc tấn công năm mũi nhọn của quân đội Mông Cổ, cũng như chiến thuật kỵ binh thần tốc, máy bắn đá, và chiến thuật khủng bố tàn nhẫn của họ. Phần còn lại của Đông và Trung Âu chỉ may mắn được cứu khi Đại Hãn Oa Khoát Đài (trị vì 1229-1241) qua đời, khiến người Mông Cổ phải rút lui.

Mặc dù để lại vô vàn cái chết và sự hủy diệt, cuộc xâm lược cũng đem đến một số giao lưu văn hóa lâu dài, khi hai thế giới đông và tây cuối cùng cũng chạm mặt. Các lữ hành gia phương Tây bắt đầu đến thăm Đông Á – một khu vực hitherto vốn là vùng đất thần thoại trong con mắt họ. Với cuộc xâm lược châu Âu của người Mông Cổ, thế giới giờ đây trở nên bạo lực hơn, và đồng thời, cũng nhỏ bé hơn đôi chút.

Mông Cổ Tàn Phá Suzdal:
Mông Cổ Tàn Phá Suzdal

Oa Khoát Đài – Hãn đế quốc Mông Cổ

Oa Khoát Đài Hãn kế thừa một vùng đất rộng lớn ở Châu Á từ cha là Thành Cát Tư Hãn vào năm 1229. Ngay từ đầu triều đại, ông phải đối mặt với hai vấn đề lớn: ngân khố rỗng, mà quân Mông Cổ thì lại cần của cải mới trung thành. Thứ hai, dù Mông Cổ đánh bại được nhiều quân đội và hạ bệ nhiều nhà cầm quyền, họ lại chưa có bộ máy chính quyền cần thiết để cai trị các vùng đất mới chiếm. Oa Khoát Đài nhận ra rằng nếu giải quyết được vấn đề thứ hai, cũng như áp đặt thuế lên các dân tộc bị chinh phục, ngân khố sẽ được lấp đầy. Đúng như vậy, ông đã cử các quan chức của mình đến cai trị nhiều khu vực và giám sát việc thu thuế tại địa phương. Với kinh đô được đặt tại Karakorum (1235), bộ máy nhà nước vững chắc, và một nguồn thu nhập ổn định được đảm bảo, Oa Khoát Đài có thể chinh phục thêm nhiều vùng đất mới.

Oa Khoát Đài

Từ lâu người Mông Cổ coi Trung Quốc là phần thưởng lãnh thổ giàu có và danh giá nhất. Năm 1230, Trung Quốc bị chia thành hai quốc gia lớn: nhà Kim của người Nữ Chân ở phía bắc và nhà Tống (960-1279) ở phía nam. Sau các chiến dịch từ năm 1230 đến năm 1234, nhà Kim sụp đổ nhưng nhà Tống thì phải chờ đợi đến tương lai. Oa Khoát Đài, thay vì đánh Tống, quyết định ngoặt sang phía tây.

Đế Chế Mông Cổ Bành Trướng Về Phương Tây: Các Công Quốc Nga Chịu Trận

Đạo quân của Thành Cát Tư Hãn đã càn quét khắp Tây Á, vòng quanh Biển Caspi và thậm chí còn đánh bại quân Nga tại Kalka vào năm 1223 sau Công Nguyên. Tuy nhiên, nhiều quốc gia bại trận trong khu vực tỏ ra không mấy sẵn lòng nộp cống phẩm cho Đại Hãn như đã thỏa thuận. Để trấn áp, Ogodei (Oa Khoát Đài) điều một đội quân đi thuyết phục họ. Đế quốc Khwarazm hứng chịu cơn thịnh nộ của Ogodei suốt những năm 1230. Năm 1235, bắc Iraq bị xâm lược. Chiến thắng nối tiếp chiến thắng, quân Mông Cổ tiến vào Azerbaijan, Georgia, và Armenia vào năm 1238, đánh hạ các thành trì kiên cố trong khu vực một cách chậm rãi, tàn phá các thành phố như Tiflis (Tbilisi) và thu cống phẩm từ các lãnh chúa địa phương.

Trong một cuộc tấn công đa hướng vào Á-Âu và Đông Âu từ năm 1236, một đội quân khác hành quân qua Kazakhstan/Uzbekistan, quét sạch người Bashkir và Bulgar trên đường đi, rồi tấn công các công quốc Nga bên kia sông Volga vào mùa đông 1237-8. Người Mông Cổ làm quen với các đồng bằng băng giá và sông ngòi đóng băng của mùa đông nước Nga, một khung cảnh chẳng xa lạ gì với những thảo nguyên khắc nghiệt mà họ và đàn ngựa dẻo dai đã quen chinh chiến. Năm 1237, thành phố Ryazan (Riazan) bị bao vây từ ngày 16 đến ngày 21 tháng 12. Số phận khủng khiếp của nó được mô tả rõ nét trong biên niên sử Voskresensk:

Quân Tatar chiếm được thị trấn Riazan…đốt sạch mọi thứ, giết hoàng tử Yuri và công chúa của ông, đồng thời tàn sát dân thường, tu sĩ, và linh mục; người thì bị chém bằng kiếm, kẻ thì bị bắn bằng tên và ném vào lửa; còn số khác bị bắt, trói, cắt xẻo.

(trích dẫn trong Turnbull, 45)

Bi kịch của Ryazan cứ thế lặp đi lặp lại, bởi vì người Mông Cổ không hề khoan nhượng, còn các công tước Nga, vốn đã ganh đua nhau từ lâu, lại chẳng thể hợp sức chống lại mối nguy chung này. Tiếp theo, đến lượt Moscow bị thiêu rụi, lúc đó chưa phải thành phố vĩ đại như sau này. Suzdal cũng chịu chung số phận vào năm 1238, và cuối cùng là kinh đô Vladimir bị bao vây. Đại Công tước Yuri II bỏ trốn khỏi thành phố, để lại vợ và các con trai đối mặt với cuộc tấn công. Sau khi tập hợp được quân đội của mình, Đại công tước Yuri quay lại giải vây nhưng thất bại. Kinh đô sụp đổ vào ngày 7 tháng 2 dưới sức tàn phá của máy công thành và máy bắn đá Mông Cổ. Nhà thờ lớn của thành phố bị đốt sạch. Đại công tử trận trong trận chiến sông Sit, thảm họa nối tiếp thảm họa. Thành phố Torshok sụp đổ sau một thời gian kháng cự dài ngày, vào ngày 23 tháng 3 năm 1238. Trái lại, Novgorod thoát nạn nhờ cuộc tấn công bị hủy khi mùa xuân đến, và quân Mông Cổ rút về phía bắc Biển Đen.

Làn sóng Mông Cổ thứ ba tràn vào Ukraine vào năm 1239, đánh bại người Polovtsian và sau đó chiếm được Kiev sau một cuộc bao vây ngắn ngủi vào ngày 6 tháng 12 năm 1240. Cư dân của Kiev bị thảm sát hệt như những nơi khác. Giovanni de Piano Carpini, một sứ giả của Giáo hoàng, đi qua khu vực này 6 năm sau đó quan sát và viết lại:

Khi đi qua vùng đất đó, chúng tôi bắt gặp vô số đầu lâu và xương của người chết nằm rải rác trên mặt đất. Kiev từng là một thị trấn rất lớn và đông dân, nhưng giờ gần như chẳng còn gì.

(trích dẫn trong Turnbull, 49)

Từ Kiev, quân đội Mông Cổ tiến qua Galicia và Podolia rồi vào Đông Âu, một cánh tiến về phía tây bắc tấn công Ba Lan, băng qua Bohemia và Moravia rồi tấn công Hungary. Một cánh khác tiến về phía nam, tấn công Transylvania, Moldavia và Walachia. Hungary bị chọn làm mục tiêu chính vì có nhiều đồng cỏ, nơi hoàn hảo để ngựa Mông Cổ tác chiến, và trở thành bàn đạp để họ xâm lược Tây Âu sau này.

Ba Lan chìm trong biển lửa

Các thị trấn của Ba Lan bị thiêu rụi hoàn toàn, và thành phố Krakow vĩ đại (năm 1241 sau Công nguyên) dễ dàng rơi vào tay người Mông Cổ. Boleslaw the Chaste (1226-1279 sau Công nguyên), hoàng tử thành phố, bỏ chạy cùng người dân, để lại khung cảnh chết chóc và cướp bóc quen thuộc. Người thổi kèn đầu tiên báo động về cuộc xâm lược bị bắn xuyên cổ bởi một mũi tên Mông Cổ. Đến tận ngày nay, sự kiện này vẫn được tái hiện trên tường thành (dĩ nhiên là không có cảnh bắn tên rồi!).

Thành phố Breslau (Wroclaw) bị rơi vào tình thế tương tự. Dân cư ở đây quá sợ hãi nên tự tay đốt thành phố của mình và cố thủ trong lâu đài. May mắn thay, vào năm 1241 sau Công nguyên, các chỉ huy Mông Cổ nhận được tin rằng một đội quân Ba Lan lớn đang tập hợp dưới sự chỉ huy của Henry the Pious, Công tước xứ Silesia (trị vì 1238-1241 sau Công nguyên). Gần Wahlstatt (Legnica), đội quân này có sự góp mặt của người Ba Lan, người Đức và các Hiệp sĩ Teuton cùng lực lượng kỵ binh hạng nặng khác.

Vào ngày 9 tháng 4, quân đội Mông Cổ nhanh chóng sử dụng chiến thuật giả vờ rút lui, sau đó tấn công trở lại dưới màn khói từ việc đốt cháy lau sậy trong khu vực. Người Mông Cổ một lần nữa tiêu diệt lực lượng đối phương. Henry bị giết, đầu của ông bị cắm trên giáo diễu hành khắp nơi. Trận chiến Liegnitz trở thành một cột mốc quan trọng trong chiến dịch xâm lược, đồng thời cũng đánh dấu điểm cực Tây trong bước tiến của quân đội Mông Cổ. Sau trận chiến, các chiến binh Mông Cổ được cho là đã chất đầy chín bao tải với chiến lợi phẩm yêu thích của họ: tai của kẻ thù.

Hungary cũng không thoát kiếp nạn

Cùng lúc với cuộc tàn phá Ba Lan, Hungary cũng trở thành mục tiêu của người Mông Cổ. Một cuộc tấn công đa hướng được thực hiện vào năm 1241 sau Công nguyên, với một đạo quân di chuyển qua Moravia ở phía bắc và ba nhánh khác đi xuyên qua dãy núi Carpathian ở phía tây. Nhánh quân Mông Cổ ở cực tây tiến sâu vào Moldavia và Wallachia, sau đó quay sang tấn công Hungary từ phía nam. Vua Bela IV của Hungary (trị vì 1235-1270 sau Công nguyên) huy động quân đội để nghênh chiến những kẻ xâm lược trên vùng đất trống.

Quân Mông Cổ truy đuổi Vua Bela IV
Quân Mông Cổ truy đuổi Vua Bela IV

Vua Bela chỉ huy một trong những đội quân mạnh nhất ở châu Âu, nhưng ông còn phải giải quyết các vấn đề nội bộ khác ngoài quân đội Mông Cổ. Thứ nhất, nhiều nam tước bất mãn khiến lòng trung thành của họ với hoàng gia là dấu hỏi lớn. Thứ hai, người Polovtsia nổi loạn đang chạy trốn cuộc tấn công của Mông Cổ từ phía đông, và giờ đây họ lại cướp bóc vùng đất Hungary. Cuối cùng, quân đội của Bela bị đánh bại hoàn toàn vào ngày 10-11 tháng 4 tại Trận Mohi (Muhi ngày nay) trên sông Sajo.

Chỉ huy người Mông Cổ Subutai (khoảng 1175-1248 sau Công nguyên) điều quân vượt qua một cây cầu phao và di chuyển qua khu vực đầm lầy để đánh bọc sườn quân đội Hungary. Cùng lúc đó, máy bắn đá Mông Cổ tấn công kẻ thù từ bờ bên kia sông. Bela IV bỏ chạy đến Pressburg (Bratislava) và sau đó đến Croatia. Trong khi đó, quân đội Mông Cổ di chuyển không ngừng nghỉ và hội quân trên sông Danube trong tuần đầu tiên của tháng Tư. Năm 1241 sau Công nguyên, cả Buda và Pest đều bị cướp phá, đặc biệt Pest bị tàn phá đúng vào ngày lễ Giáng sinh. Nhưng mục tiêu lớn nhất chính là Gran (Esztergom), thành phố lớn nhất và giàu có nhất trong khu vực vào thời điểm đó.

Người Mông Cổ đã sử dụng 30 máy bắn đá để vây hãm thành phố từ ngày Giáng sinh năm 1241 sau Công nguyên, và hạ thành phố một thời gian ngắn sau đó. Những kẻ xâm lược sau đó lần theo sông Danube về phía tây cho đến Wiener Neustadt. Tại đây, đội quân do Công tước Frederick II của Áo (trị vì 1230-1246 sau Công nguyên) dẫn đầu đã buộc người Mông Cổ tạm thời dừng chân cân nhắc lại kế hoạch.

Lui quân

Trong khi đó, một cánh quân Mông Cổ khác truy đuổi Vua Bela vào Croatia, cướp phá Zagreb trên đường đi. Họ tiếp tục tiến vào Bosnia và Albania, cuối cùng hướng tới Biển Caspian và Sarai – nơi sẽ trở thành kinh đô của Hãn quốc Kim Trướng. Đội quân phía Bắc của Mông Cổ cũng quay đầu, tuy nhiên việc rút lui này không phải vì đụng phải lực lượng địch mạnh mà bởi tin tức chấn động vừa truyền khắp châu Á từ Mông Cổ: Đại Hãn Oa Khoát Đài đã băng hà vào ngày 11 tháng 12 năm 1241. Người kế vị cần được bầu chọn tại một hội nghị truyền thống của tất cả các bộ tộc Mông Cổ, vì vậy các chỉ huy cấp cao buộc phải trở về.

Có thể tồn tại thêm nhiều lý do khác khiến người Mông Cổ hủy bỏ chiến dịch vào năm 1242. Có lẽ họ phải kéo dài tuyến liên lạc quá mức từ kinh đô Karakorum của đế chế, hoặc nhận ra rằng đồng cỏ Hungary không đủ để nuôi một đội quân Mông Cổ khổng lồ lâu dài. Thế lực Mông Cổ cũng vướng vào các mối bất hòa nội bộ – sau khi Oa Khoát Đài qua đời, không có vị chỉ huy nào có thể dựa vào sự ủng hộ toàn diện của đồng minh khi tác chiến quá xa lãnh địa. Dù sao thì mục tiêu hấp dẫn nhất của người Mông Cổ vẫn nằm ở phía Đông: nhà Tống Trung Hoa (960-1279), nơi bị xâm chiếm và chinh phục bởi vị vua Mông Cổ vĩ đại tiếp theo, Hốt Tất Liệt (trị vì: 1260-1294).

Nguyên nhân thành công

Quân đội Mông Cổ sở hữu hàng tá lợi thế trong các chiến dịch đánh Nga và châu Âu. Đầu tiên, họ là một kẻ thù hoàn toàn bí ẩn. Bất chấp trận đánh ở Kalka, người phương Tây vẫn chẳng biết họ đang đối mặt với thứ gì, như một sử gia vùng Novgorod từng viết: “Chúng rút lui từ sông Dnieper, và ta chẳng biết chúng tới từ đâu, rồi lại đi về đâu.” Một thập kỷ rưỡi sau, vẫn chẳng có thông tin tình báo nào hữu ích hơn.

Tạo hình một chiến binh Mông Cổ
Tạo hình một chiến binh Mông Cổ

Họ là những cung thủ thiện chiến, trang bị cung hỗn hợp tầm xa, và là những chiến binh có sức chịu đựng đáng nể, có thể cưỡi ngựa nhiều ngày liên tục với thức ăn và nước uống tối thiểu. Ngựa chiến của họ tuy thấp bé nhưng nhanh nhẹn, bản thân chúng cũng là một loại vũ khí trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Người Mông Cổ có cả kỵ binh hạng nhẹ và hạng nặng, và mỗi kỵ sĩ thường có tới 16 con ngựa dự phòng, mang lại cho họ tầm hoạt động cực kỳ rộng lớn. Đội quân Mông Cổ vì vậy có tốc độ di chuyển cực nhanh trên khắp các vùng lãnh thổ.

Thêm nữa, họ tạo ra các kế hoạch hành quân chi tiết, theo đó, các sư đoàn khác nhau có thể chia tách, tấn công kẻ địch ở những khu vực riêng biệt, và sau đó tập hợp lại tại một địa điểm nhất định. Đây là lý do tại sao bản đồ các chiến dịch của quân Mông Cổ trông như một… đĩa mì Ý khi nhiều đạo quân có thể di chuyển theo mọi hướng.

Hơn cả thế, người Mông Cổ chưa bao giờ bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để áp dụng chiến thuật và công nghệ của kẻ thù. Họ không chỉ mang lại tính linh hoạt đáng sợ vào chiến trường, mà nhờ sự thích nghi nhanh chóng, họ còn sử dụng thành thạo nhiều phương thức tác chiến khác, như công thành, hỏa tiễn và máy bắn đá – tất cả đều cực kỳ khác biệt với truyền thống chiến tranh du mục. Đối mặt trước những hiệp sĩ châu Âu, thì lực lượng tinh nhuệ này lại dường như là một trong những kẻ thù dễ giải quyết nhất đối với người Mông Cổ. Kỵ binh Âu châu dù có nặng nề cũng không thể trụ vững đủ lâu để truy kích kỵ binh Mông Cổ nhanh nhẹn.

Một ưu thế khác của người Mông Cổ: khả năng lợi dụng những bất đồng nội bộ của kẻ thù nhằm khuấy động các mối thù cũ, làm suy yếu liên minh – thông tin này họ thường thu thập qua gián điệp và nhà buôn. Cuối cùng, tinh thần chiến đấu luôn ở mức cao vì chiến tranh Mông Cổ chỉ phục vụ cho một mục đích duy nhất: cướp bóc và thu lợi.

Vũ khí thành công khác là nỗi kinh hoàng. Thành Cát Tư Hãn đã cực kỳ hiệu quả trong việc sử dụng chiến thuật tàn sát đàn ông, phụ nữ và trẻ em ở các thành phố bị chiếm đóng, nhằm răn đe và ép buộc các nơi khác đầu hàng. Lũ lượt tù binh được thả ra, sau khi chứng kiến cảnh thảm sát hàng loạt dân thường, cũng trở thành công cụ tuyệt vời để gieo rắc nỗi sợ cho các khu vực lân cận. Dưới thời Oa Khoát Đài, người Mông Cổ vẫn tiếp tục các chiến thuật tàn bạo. Một kế sách vô cùng độc ác khác là sử dụng tù binh làm lá chắn sống khi tấn công thành trì, thậm chí còn cải trang cho họ thành chiến binh Mông Cổ để đối phương lãng phí số mũi tên quý giá trong khi tàn sát đồng bào của mình.

Người Mông Cổ với Ngựa và Lạc Đà
Người Mông Cổ với Ngựa và Lạc Đà

Tất nhiên, người Mông Cổ còn có một trong những vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại, Tốc Bất Đài (1176 – 1248). Đã dày dặn kinh nghiệm từ các chiến dịch chống lại Hạ và Kim của Thành Cát Tư Hãn, vị tướng này là tổng chỉ huy các lực lượng xâm lược miền Tây Á và Đông Âu, ngay cả khi đứng đầu chiến dịch là Bạt Đô (khoảng 1205 – 1255), cháu trai của Oa Khoát Đài. Dù được mô tả là quá mập đến nỗi không thể cưỡi ngựa, vị chỉ huy này vẫn điều khiển binh sĩ cực kỳ hiệu quả từ một chiếc xe ngựa, và sự can thiệp của ông trong trận Mohi mang tính quyết định.

Kẻ xâm lược hay người mở đường giao lưu Đông – Tây?

Dù quân Mông Cổ đã rút lui vào năm 1242 sau Công Nguyên, nhưng tầm ảnh hưởng của cuộc xâm lược vẫn tồn tại lâu hơn thế. Trước hết, cái chết, sự tàn phá, và nạn dân cư phải di dời mà họ tạo ra là những hậu quả nặng nề. Trong khi đó, khác với châu Âu gần như không thay đổi nhiều về kẻ nắm quyền lực, các cuộc xâm lược ở Nga và nhiều nơi tại Tây Á đã lật đổ hoàn toàn các thế lực cũ, bị khuất phục bởi “ách thống trị Tartar” trong hơn một thế kỷ.

Tuy nhiên, việc các sử gia Nga và sau đó là nhiều nhà nghiên cứu khắc họa Mông Cổ như những kẻ ác quỷ không hẳn phản ánh thực tế. Lực lượng xâm lược này chỉ tàn phá một số thành phố nhất định, phớt lờ những thành phố khác, và chưa bao giờ thiết lập một cấu trúc chính trị mới của riêng họ. Chưa kể, sau cuộc xâm lược, nhiều hoàng thân Nga vẫn được tự do cai trị với mức độ tự chủ khá cao. Alexander Nevsky, hoàng thân xứ Vladimir (1221-1263 SCN), là một minh họa điển hình. Chiến thắng của ông trước các hiệp sĩ Thụy Điển và Đức năm 1240 CN chứng minh Nga không hề bị Mông Cổ xóa sổ.

Làn sóng hậu quả thứ hai đến chậm hơn, tinh vi hơn, nhưng cũng gây ảnh hưởng không nhỏ. Châu Âu được hưởng lợi từ làn sóng ý tưởng đến từ phương Đông nhờ vào người Mông Cổ – những người đã cung cấp cầu nối quan trọng giữa hai nền văn minh. Thuốc súng, giấy, máy in, và la bàn được phổ biến rộng rãi. Những người phương Tây, với tư cách đại sứ, sứ giả của Đức Giáo Hoàng, nhà truyền giáo, và lữ khách như Marco Polo (1254-1324 CN), đã tận mắt chứng kiến thế giới Đông Á, mang về kho tàng ý tưởng hữu ích cũng như vô số chuyện phiêu lưu. Thế giới dường như trở nên nhỏ hơn, nhưng sự giao lưu tăng cường này cũng để lại hậu quả tiêu cực, điển hình nhất là sự lây lan của Cái Chết Đen (1347-1352 CN). Dịch bệnh kinh hoàng này bắt nguồn từ vùng hẻo lánh của Trung Quốc, lan đến Biển Đen, rồi từ đó tràn đến Venice và toàn châu Âu. Dịch hạch đáng sợ còn quay lại thành nhiều đợt suốt thế kỷ 14, gây ra thiệt hại về nhân mạng còn khủng khiếp hơn cả những gì quân Mông Cổ đã gây ra một thế kỷ trước.

5/5 - (4 votes)

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s