Tôn Giáo

Tứ Linh Khải Huyền, Tứ vị Thánh sử và các bộ tứ khác trong Giáo hội Kitô giáo

Tiên tri Daniel có thị kiến nổi tiếng về 4 con thú. Sách Khải Huyền cũng nói về 4 con thú. "Bộ Tứ" là một tập hợp xuất hiện dưới nhiều dạng trong Giáo hội Kitô giáo.

bon con thu trong thi kien cua Daniel

Tại thành phố Venice cổ kính và thơ mộng, ống kính của các du khách dễ dàng thu được hình ảnh các bức tượng đồng hình sư tử được đặt ở những vị trí trang trọng ở trung tâm thành phố. Và rồi khi đến thăm Vương cung Thánh đường thánh Marco, đi vào hướng cánh tây, họ sẽ lại được thấy chú sư tử đó, lần này được mạ vàng và ngự trên vòm cửa vào nhà thờ, chân đặt lên trên một cuốn sách nhỏ có ghi dòng chữ Latin: “Pax tibi Marce evangelista meus” (Bình an cho Marco, người loan báo Tin Mừng của tôi). Quả vậy, các chú sư tử có cánh đó ở Venice được gọi là Sư tử của thánh Marco. Và nếu bạn tò mò muốn biết lý do vì sao biểu tượng sư tử lại thuộc về thánh Marco, ta sẽ thử cùng nhau làm một hành tình tìm hiểu nho nhỏ về các biểu tượng cổ xưa trong thế giới Kitô giáo…

1. Những linh vật kì bí trong thị kiến của Ngôn Sứ Ezekiel và Thánh Tông đồ Gioan

Thực ra, Sư tử của thánh Marco không phải là một biểu tượng đơn lẻ. Nó nằm trong một biểu tượng bộ tứ đã từng xuất hiện ở hai thị kiến trong Kinh Thánh, với một vài đặc điểm khác biệt. Lần xuất hiện đầu tiên của chúng là trong thị kiến về xa giá Thiên Chúa của Ezekiel, một ngôn sứ sống trước Chúa Giêsu khoảng sáu thế kỉ, vào thời dân Do Thái bị lưu đày tại Babylon. Chúng ta hãy đọc lại trình thuật Kinh Thánh về thị kiến của ông:

“Tôi nhìn, thì kìa một cơn gió bão từ phương Bắc thổi đến; có đám mây lớn, có lửa loé ra và ánh sáng chiếu toả chung quanh; ở chính giữa như có một kim loại lấp lánh, ở chính giữa lửa. Ở chính giữa, có cái gì tựa như bốn sinh vật. Đây là dáng vẻ của chúng: chúng trông giống như người ta. Mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. Còn chân của chúng thì thẳng; bàn chân tựa bàn chân con bê, lấp lánh như đồng sáng loáng. Bên dưới cánh, có những bàn tay giống tay người quay về bốn phía; mặt và cánh của bốn sinh vật cũng đều như thế. Cánh của chúng giáp vào nhau. Lúc đi, chúng không quay mặt vào nhau, nhưng cứ thẳng phía trước mặt mà tiến. Còn bộ mặt của chúng, thì chúng đều có mặt người, cả bốn đều có mặt sư tử bên phải, cả bốn đều có mặt bò rừng bên trái, cả bốn đều có mặt phượng hoàng. Đó là mặt của chúng. Còn cánh của chúng thì giương lên cao. Mỗi sinh vật có hai cánh giáp vào nhau và hai cánh khác phủ thân mình. Chúng cứ thẳng phía trước mặt mà đi, thần khí đẩy phía nào, chúng đi phía đó; lúc đi chúng không quay mặt vào nhau” (Ed 1, 4-12).

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các linh vật trong thị kiến của ngôn sứ Ezekiel đã kết hợp nhiều biểu tượng hình ảnh có nguồn gốc từ Ai Cập và Lưỡng Hà khá phổ biến đương thời. Cụ thể, họ cho rằng bốn hình ảnh mà ngôn sứ đã mô tả tương ứng với bốn biểu tượng trong chiêm tinh Cận Đông cổ đại, theo thứ tự trên cung Hoàng đạo là: con bò rừng tượng trưng cho chòm Kim Ngưu, con sư tử tượng trưng cho chòm Sư Tử, đại bàng cho chòm Hổ Cáp, và con người cho chòm Bảo Bình.

Lần thứ hai mà bốn linh vật kì bí trên xuất hiện trong Kinh Thánh là ở thị kiến của thánh Tông đồ Gioan, khi mà tác giả sách Khải Huyền mô tả về quang cảnh trước ngai toà Thiên Chúa. Tuy nhiên, ở lần xuất hiện này, bốn linh vật không hoàn toàn giống như trong thị kiến của ngôn sứ Ezekiel. Như đã thấy, bốn linh vật huyền bí trong thị kiến của Ezekiel, mỗi linh vật đều có thân hình như con người, có bốn cánh, và có tới bốn gương mặt là “nhân-sư-ngưu-bằng”. Thế nhưng, bốn linh vật trong sách Khải huyền thì mỗi con có sáu cánh, thân mình đầy những mắt, và chỉ có một khuôn mặt của nhân, hoặc sư, hoặc ngưu, hoặc bằng.

“Tôi được một thị kiến. Kìa một cái cửa mở ra ở trên trời, và tiếng mà trước đây tôi nghe nói với tôi như thể tiếng kèn, bảo tôi rằng: “Lên đây, Ta sẽ chỉ cho ngươi thấy những điều phải xảy ra sau đó.” Lập tức tôi xuất thần. Kìa một cái ngai đặt ở trên trời và có một Đấng ngự trên ngai. Đấng ngự đó trông giống như ngọc thạch và xích não. Chung quanh ngai có cầu vồng trông giống như bích ngọc. Chung quanh ngai có hai mươi bốn ngai khác, và trên những ngai đó có hai mươi bốn vị Kỳ Mục; các vị đang ngồi, mình mặc áo trắng, đầu đội triều thiên vàng. Từ ngai phát ra ánh chớp, tiếng sấm tiếng sét. Bảy ngọn đuốc, tức là bảy thần khí của Thiên Chúa cháy sáng trước ngai. Trước ngai có cái gì như biển trong vắt tựa pha lê. Ở giữa ngai và chung quanh ngai có bốn Con Vật, đằng trước và đằng sau đầy những mắt. Con Vật thứ nhất giống như sư tử, Con Vật thứ hai giống như bò tơ, Con Vật thứ ba có mặt như mặt người, Con Vật thứ bốn giống như đại bàng đang bay. Bốn Con Vật ấy, mỗi con có sáu cánh, chung quanh và bên trong đầy những mắt. Ngày đêm chúng không ngừng hô lên rằng: Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa, Thiên Chúa toàn năng, Đấng đã có, hiện có và đang đến!” (Kh 4, 1-8)

Hai thị kiến vừa kể ra cho chúng ta thấy rõ Sư tử là một phần của bộ biểu tượng Tứ linh Khải huyền, thế nhưng Sư tử đó thì có liên quan gì đến thánh sử Marco? Hoá ra là từ thế kỉ thứ hai, có một vị Giáo phụ đã gán bộ biểu tượng Tứ linh Khải huyền cho Tứ vị Thánh sử Matthew-Marco-Luca-Gioan, những người đã viết nên bốn bản văn Tin Mừng về Chúa Giêsu Kitô.

2. Tứ linh Khải Huyền, biểu tượng của tứ vị thánh sử

Những hình ảnh huyền bí về Tứ linh trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đã được thánh Giáo phụ Irenaeus (140–202) liên kết với các tác giả Tin Mừng, hình ảnh nào tượng trưng cho ai thì tùy theo nội dung của mỗi Tin Mừng và điểm nhấn mạnh của từng tác giả về Chúa Giêsu Kitô. Trong khảo luận Adversus Haereses (Chống lạc giáo, chương XI), thánh Irenaeus viết: 

“Con Vật thứ nhất giống như sư tử” tượng trưng cho công việc rất hiệu quả của Đức Kitô, quyền lãnh đạo và vương quyền của Ngài; “Con Vật thứ hai giống như bò tơ” nói lên đặc tính tư tế và hy tế của Ngài; “Con Vật thứ ba có mặt như mặt người” là cách diễn tả rõ ràng về việc Đức Kitô xuống thế trong thân phận một phàm nhân; “Con Vật thứ bốn giống như đại bàng đang bay” tượng trưng cho ân huệ Chúa Thánh Thần bay lượn với đôi cánh trên Giáo Hội.” 

Quả thực, khi xem xét kĩ, ta thấy các Tin Mừng đều có điểm phù hợp với các hình ảnh này khi nói về Chúa Giêsu Kitô.

Cụ thể hơn, Thánh Irenaeus giải thích các biểu tượng như sau: “Tin Mừng Matthew nói về nhân tính của Ngài, và quả thực, tính cách một con người hiền lành và khiêm nhượng đã được nhắc đến xuyên suốt toàn bộ Tin Mừng này”. Thực tế là Thánh Matthew đã bắt đầu sách Tin Mừng của mình bằng việc trình bày gia phả của Chúa Giêsu Kitô, để nhấn mạnh rằng Ngài đã thực sự xuống thế gian qua sự nhập thể và hạ sinh của Ngài: “Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Mt 1, 1). Một điều khá thú vị ở bản gia phả này là thánh Matthew đã làm nổi bật yếu tố “con cháu vua David” của Chúa Giêsu bằng cách lặp lại đến ba lần con số 14 đời: 

“từ tổ phụ Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời” (Mt 1, 17).

Theo các nhà chú giải, tên David viết theo kiểu chỉ ghi lại phụ âm của tiếng Do Thái là דָּוִד (ba phụ âm dalet-vav-dalet), mà người Do Thái cổ lại có một cách đếm dựa trên bản chữ cái, trong đó dalet=4 và vav=6, tức là tổng trị số tên của vua David sẽ là 4+6+4=14. Ba phụ âm tên David khi chuyển qua tiếng Hi Lạp sẽ là delta-faw-delta, mà chữ delta được viết là Δ, và khi chồng hai chữ Δ lên nhau, ta sẽ có “ngôi sao David”, thứ vẫn được sử dụng trên quốc kì Israel ngày nay.

Thánh Marco được tượng trưng bởi một con sư tử, bởi lẽ sách Tin Mừng của ngài đã bắt đầu với lời rao giảng của thánh Gioan Tẩy Giả, một tiếng hô vang trong hoang địa như tiếng sư tử gầm: 

“Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa. Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mc 1, 1-3). Câu “Có tiếng hô trong hoang địa” khiến liên tưởng đến tiếng rống của một con sư tử.

Hình ảnh Sư tử tượng trưng cho sự trung thành, một biểu tượng thích hợp để dành cho Con Thiên Chúa, Đấng luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha (x.Ga 4, 34). Đồng thời hình ảnh đó cũng nhắc nhớ lại về sấm ngôn của tổ phụ Jacob về Sư tử nhà Judah và sự suy phục của nó đối với vương quyền của Đấng được muôn dân tôn thờ (x.St 49, 9-10).

Thánh Luca được thánh Irenaeus gắn liền với hình ảnh một con bò, do lẽ sách Tin Mừng của ngài bắt đầu bằng lời loan báo về sự chào đời của thánh Gioan Tẩy Giả cho thân phụ Zechariah, một tư tế đang dâng tế lễ trong Đền Thờ (x.Lc 1, 5-22). Trong phụng vụ của người Do Thái, bò là con vật được dùng làm hy lễ tạ tội cho toàn thể dân, bằng cách dùng máu nó rảy bảy lần trước Bức trướng che Nơi Cực Thánh và bôi vào bốn góc sừng của Hương án (x.Lv 4, 13-21). Nghi lễ xá tội cổ xưa đó là hình ảnh báo trước cho việc chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng vừa là thượng tế vừa là hy lễ tinh tuyền nhất (x.Dt 9, 11-14), bằng cuộc khổ nạn, đã dùng máu mình xoá bỏ tội lỗi cho trần gian (x.Lc 22, 20). Ngoài ra, sách Tin Mừng Luca cũng kể lại dụ ngôn Người con hoang đàng (x.Lc 15,11-32), có nhắc đến con bê béo bị giết để đãi tiệc. Con bê đó không chỉ để mừng người con thứ trở về mà còn tiên báo niềm vui của các Kitô hữu được lãnh nhận ơn hòa giải nhờ Đấng Cứu Thế.

Cuối cùng, con đại bàng đại diện cho Thánh Gioan, có thể là vì hai lý do. Thứ nhất, sách Tin Mừng Gioan bắt đầu với một lời tựa đậm tính thần khải về mối tương quan thần linh giữa Chúa Cha và Chúa Con: 

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1, 1–3).

Lời tựa đó cũng đề cập đến mầu nhiệm Nhập Thể cao siêu: 

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1, 14).

Thứ hai, cũng giống như đại bàng, thánh Gioan là người có thể tham dự vào những tầng tư tưởng cao vời, thể hiện trong các trình thuật Tin Mừng về bài diễn từ của Chúa Giêsu với ông Nicodemus cũng như với người phụ nữ Samaria, hoặc những giáo huấn thâm sâu về Bánh Hằng Sống và Người Mục Tử Nhân Lành. Ngoài ra, ngài còn có thể nhìn thấy được những thứ mà người thường không thể thấy được, như các thị kiến tại đảo Patmos được ghi lại trong sách Khải Huyền của ngài. Chính vì nhận ra sự siêu việt trong các tác phẩm của ngài mà người ta đã suy tặng cho ngài danh hiệu Đại bàng đảo Patmos.

Hai thế kỉ sau, chính thánh Giáo phụ Hieronymus (347-420), người đầu tiên dịch bộ Kinh Thánh từ tiếng Do Thái và Hy Lạp sang tiếng Latin, đã một lần nữa đồng ý với thánh Irenaeus về việc gán biểu tượng Tứ linh Khải huyền cho Tứ vị Thánh sử. Cụ thể là thánh Matthew được liên kết với một con người, thánh Marco được tượng trưng bằng một con sư tử, thánh Luca thì được gắn liền cùng một con bò, và Thánh Gioan được đại diện bởi một con đại bàng.

Như vậy, chúng ta đã hiểu rõ vì sao biểu tượng Sư tử lại được gắn liền với thánh Marco, và nếu biết thêm rằng thành phố Venice đã chọn thánh nhân là vị thánh bảo trợ, ta sẽ dễ dàng hiểu được lý do mà các bức tượng Sư tử của thánh Marco được đặt ở những vị trí trang trọng trong thành phố cổ kính này. Tuy nhiên, Tứ linh Khải huyền và Tứ vị Thánh sử chỉ là hai bộ tứ quan trọng nhất trong hệ thống biểu tượng Kitô giáo, vì thực ra trong Kinh Thánh và lịch sử Giáo Hội còn có khá nhiều bộ tứ khác, cũng thú vị không kém. Ta hãy thử cùng nhau đi tiếp con đường này, điểm qua một vài bộ tứ nổi bật…

Ly giáo Iconoclasm – đế quốc Byzantium
Bàn Về Mười Tai Ương Giáng Xuống Ai Cập Trong Kinh Thánh
Tích lịch hoả và cuộc thần hiện tại núi Sinai

3. Các bộ tứ nổi bật trong Kinh thánh

Bộ tứ đầu tiên xuất hiện trong Kinh Thánh là Tứ thuỷ Địa đàng, được ghi lại trong trình thuật Tạo dựng:

“Một con sông từ Ê-đen chảy ra tưới khu vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh. Tên nhánh thứ nhất là Pi-sôn, nó bao quanh tất cả đất Kha-vi-la là nơi có vàng; vàng ở đất này tốt, tại đó có nhũ hương và đá ngọc. Tên nhánh thứ hai là Ghi-khôn; nhánh này bao quanh tất cả đất Cút. Tên nhánh thứ ba là Tích-ra; nhánh này chảy ở phía đông Át-sua. Còn nhánh thứ bốn là Êu-phơ-rát” (St 2, 10-14).

Hai con sông thứ ba và thứ tư đã được chỉ rõ danh tính là Tigris và Euphrates, còn hai con sông đầu tiên, các nhà chú giải vẫn tranh cãi xem liệu chúng có phải là Ấn Hà và Hằng Hà hay không. Một số học giả hiện đại lại nghiêng về thuật ngữ tiếng Hi Lạp là Oikoumene (miền đất của thế giới có người cư ngụ, thường cũng được gọi là “Nile to Oxus”) của Marshall Hodgson để lý giải rằng Nile và Oxus mới là tên hai con sông bí ẩn còn lại.

Một bức minh họa 4 con sông trong vườn địa đàng, vẽ vào thế kỷ 12
Một bức minh họa 4 con sông trong vườn địa đàng, vẽ vào thế kỷ 12

Tiếp theo, ta xét đến Tứ vị Tổ mẫu, tức là các người vợ của ông Jacob. Ông Jacob lấy hai chị em ruột là bà Leah (sinh Reuben, Simeon, Levi, Judah, Issachar, Zebulun và cô con gái Dinah) và Rachel (sinh Joseph, Benjamin) sau đó lại lấy hai nô tỳ của họ là các bà Bilhah (sinh Dan, Naphtali) và Zilpah (sinh Gad, Asher). Mười hai con trai của Jacob chính là tổ phụ mười hai chi tộc Israel sau này (có một chút thay đổi với việc hai người con của Joshep là Ephraim and Manasseh thế cho vị trí của cha họ và người chú Levi).

Trải qua thời gian, hậu duệ của Tứ vị Tổ mẫu chia thành hai phe. Những chi tộc xuất phát từ Rachel đã cạnh tranh với những chi tộc xuất thân từ Leah để giành quyền lãnh đạo, như có thể thấy được trong câu chuyện các anh em lớn đem Joseph bán cho những lái buôn Midian (x.St 37,12-36). Sau này trong lịch sử dân tộc Israel, sau cái chết của vua Salomon vào năm 922BC, một trong hai chi tộc xuất phát từ Joseph là chi tộc Ephraim đã tranh quyền lãnh đạo với chi tộc Judah của vua David, dẫn đến cuộc li khai Bắc – Nam.

Thứ ba, ta phải kể đến Tứ đại Bảo khí đặt trong Trướng Tao Phùng của dân Israel. Trong gian Nơi Thánh, Bàn dâng Bánh tiến được đặt ở phía bắc, là nơi vào mỗi ngày sabbath, các tư tế đặt 12 bánh mới xếp thành hai chồng lên bàn (Lv 24, 5-9), để tỏ lòng tôn thờ và tri ân Thiên Chúa; Trụ Đèn bảy ngọn được đặt ở phía nam, được vị thượng tế đốt lên hằng đêm và để cho nó cháy đến sáng (Lv 24, 2-4); còn Hương án, đặt ngay trước Bức trướng, được vị thượng tế đốt hương vào hai lần sáng tối, ông cũng bôi máu lễ vật lên bốn góc sừng của nó để làm nghi lễ tạ tội cho dân (x.Lv 4, 13-18). Trong Nơi Cực Thánh, có Hòm Bia chứa hai bia đá Giao Ước, là nơi không một ai vô phận sự được phép bước vào. Mỗi năm một lần, vị thượng tế sẽ cử hành lễ xá tội (Yom Kippur) bằng cách rảy máu tế vật lên Nắp Xá Tội của Hòm Bia (x.Lv 16).

Dân tộc Israel được Thiên Chúa hướng dẫn qua các vua, các tư tế và các ngôn sứ. Hai thành phần đầu kế thừa bằng huyết tộc, còn hàng ngũ các ngôn sứ thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự kêu gọi của Thiên Chúa. Trong hàng hàng lớp lớp các ngôn sứ vô danh và hữu danh, có một vài vị đã để lại các sấm ngôn được ghi lại bút tích, trong số các vị này lại nổi bật lên Tứ đại Ngôn sứ là Isaiah (~740BC-686BC), Jeremiah (~650BC-570BC), Ezekiel (~622BC-570BC), Daniel (hoạt động quãng 605BC).

Về Tứ đại Ngôn sứ, ta đã bàn về thị kiến Tứ linh của Ezekiel, ngoài ra còn có sấm ngôn của Isaiah về Tứ đại Phúc danh của Đấng Mesiah: “Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” (Is 9, 5).

Đây chính là đoạn Kinh Thánh nói về sự hạ sinh của Chúa Giêsu Kitô, và nó được đọc lên trong phụng vụ mỗi thánh lễ Giáng Sinh.

Ngôn sứ Daniel, một trong Tứ đại Ngôn sứ, nổi bật về các thị kiến bí hiểm, cũng có một bộ tứ cho riêng ngài, đó là Tứ quái sách ngôn sứ Daniel:

“Ban đêm, trong một thị kiến, tôi đang mải nhìn thì kìa: gió bốn phương trời khuấy động biển cả; bốn con thú lớn từ biển lên, mỗi con mỗi khác: Con thứ nhất giống như sư tử, lại mang cánh đại bàng. Tôi nhìn theo cho đến khi đôi cánh của nó bị giựt mất; nó được nhấc lên khỏi mặt đất và đặt đứng trên hai chân như một người; nó được ban cho một quả tim người. Và này một con thú khác, con thứ hai, giống như con gấu. Nó được đặt trong tư thế chỉ đứng một bên, mõm ngậm ba khúc xương sườn giữa hai hàm răng. Người ta bảo nó như thế này: “Đứng lên, ăn thịt cho nhiều đi! ” Sau đó, tôi đang nhìn, thì kìa: một con thú khác giống như con beo; hai bên mình nó, có bốn cánh như cánh chim. Nó có bốn đầu, và được trao quyền thống trị. Rồi vẫn trong thị kiến ban đêm, tôi đang nhìn thì kìa: con thú thứ tư đáng kinh đáng sợ và mạnh mẽ vô song; răng của nó bằng sắt và rất to. Nó ăn, nó nghiền, rồi lấy chân chà đạp những gì còn sót lại. Nó khác hẳn tất cả các con thú trước. Nó có những mười sừng. Tôi đang chăm chú nhìn các sừng, thì kìa: giữa các sừng này, một sừng khác, nhỏ hơn, mọc lên; và ba cái trong các sừng trước bị nhổ đi trước mặt cái nhỏ. Và kìa: có những con mắt như mắt người trên sừng ấy, và có một cái mồm nói những điều quái gở” (Đn 7, 2-8).

Khi bàn về các thị kiến kì bí, nhiều người chắc hẳn đã quen thuộc với Tứ Kị sĩ sách Khải Huyền, tuy nhiên ít ai biết rằng nhiều nhà chú giải đã chỉ ra rằng thị kiến này có khá nhiều điểm tương đồng với thị kiến Tứ kị sĩ sách ngôn sứ Zechariah:

“Đang đêm, tôi đã thấy một thị kiến. Đây, một người đang cỡi con ngựa màu hung, và đứng ở giữa những cây sim mọc trong vực thẳm. Đằng sau người ấy, có những con ngựa màu hung, màu hồng và màu trắng. Tôi mới hỏi: “Thưa ngài, những cái đó là gì vậy? ” Thần sứ đang nói với tôi trả lời: “Ta sẽ cho ngươi thấy những cái đó là gì.” Người đang đứng giữa các cây sim lên tiếng nói: “Đó là những người ĐỨC CHÚA phái đi ngang dọc toàn cõi đất.” Bấy giờ, những người ấy lên tiếng trả lời vị thần sứ của ĐỨC CHÚA đang đứng giữa các cây sim: “Chúng tôi đã đi ngang dọc toàn cõi đất, và thấy khắp nơi đều an cư lạc nghiệp” (Dcr 1, 8-11).

Liền sau đó, ngôn sứ than thở với thần sứ về tình trạng khổ cực ở chốn lưu đày của dân Israel, như một tương phản với cảnh thanh bình của toàn cõi đất, và Thiên Chúa đã hứa sẽ hồi phục Israel và dẫn họ về lại quê cha đất tổ.

Bên cạnh các sấm ngôn, các tác phẩm văn chương khôn ngoan cũng có một bộ tứ đáng được nhắc đến. Xuất hiện muộn thời trong Kinh Thánh (~150BC-100BC), sách Khôn Ngoan đã tình cờ phản ánh sự giao thoa văn hoá giữa các dân tộc Cận Đông với các sắc dân trên bán đảo Hy Lạp. Những vận động thú vị đó, người đọc tinh ý có thể nhận ra. Đơn cử trường hợp Tứ trụ Nhân đức, một tư tưởng được triết gia Plato (428BC-348BC) bàn rất kĩ trong triết phẩm Cộng hoà trứ danh, đã được sách Khôn Ngoan vận dụng: “Chính Đức Khôn Ngoan sản sinh các nhân đức: Quả vậy, Đức Khôn Ngoan dạy cho biết sống tiết độ, cẩn trọng, công bình và dũng mãnh. Trên đời này, còn chi hữu ích cho con người hơn các nhân đức ấy ?” (Kn 8,7).

Những người có hứng thú với các tác phẩm văn chương mang hơi hướng huyền bí, có lẽ sẽ không lạ lẫm gì với thị kiến được thánh Tông đồ Gioan ghi lại về Tứ kị sĩ Khải huyền:

“Tôi lại thấy: khi Con Chiên mở ấn thứ nhất trong bảy ấn, thì tôi nghe một trong bốn Con Vật hô lên, tiếng vang như sấm: “Hãy đến!” Tôi thấy: kìa một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang cung. Người ấy được tặng một triều thiên và ra đi như người thắng trận, để chiến thắng. Khi Con Chiên mở ấn thứ hai, thì tôi nghe Con Vật thứ hai hô: “Hãy đến!” Một con ngựa khác đi ra, đỏ như lửa, người cỡi ngựa nhận được quyền cất hoà bình khỏi mặt đất, để cho người ta giết nhau; người ấy được ban một thanh gươm lớn. Khi Con Chiên mở ấn thứ ba, thì tôi nghe Con Vật thứ ba hô: “Hãy đến!” Tôi thấy: kìa một con ngựa ô, và người cỡi ngựa cầm cân trong tay. Tôi lại nghe như có tiếng nói từ giữa bốn Con Vật vang lên: “Một cân lúa mì, một quan tiền! Ba cân lúa mạch, một quan tiền! Còn dầu và rượu, thì chớ đụng đến! ” Khi Con Chiên mở ấn thứ bốn, thì tôi nghe tiếng Con Vật thứ bốn hô: “Hãy đến!” Tôi thấy: kìa một con ngựa xanh nhạt, và người cỡi ngựa mang tên là Tử thần, có Âm phủ theo sau. Chúng nhận được quyền hành trên một phần tư mặt đất, để giết bằng gươm giáo, đói kém, ôn dịch và thú dữ sống trên đất” (Kh 6, 1-7).

Đây là một thị kiến suốt hai ngàn năm nay đã làm tốn khá nhiều giấy mực cuả những người tò mò chuyện thông linh tương lai, tuy nhiên, chú giải của Hội Thánh Công Giáo lại không gán quá nhiều ý nghĩa lớn nào cho thị kiến này.

Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lược qua các bộ tứ nổi bật nhất Kinh Thánh. Về phía Hội Thánh, sau 2000 năm lịch sử, Hội Thánh đã có cho mình những bộ tứ nào? Chúng ta hãy cùng nhau đi tìm các bộ tứ nổi bật nhất trong thời đại của Chúa Thánh Thần…

4. Các bộ tứ nổi bật trong lịch sử Hội thánh

Quãng thời gian hai thế kỉ IV và V, khi Hội Thánh vừa ra khỏi những cơn bách hại, một nhu cầu cấp bách nổi lên là cần khẳng định lại các thông điệp Tin Mừng lẫn các giáo thuyết căn bản của Kitô giáo nhằm chống lại những học thuyết phủ nhận thiên tính hoặc nhân tính của Chúa Giêsu Kitô do các lạc giáo đương thời tung ra. Tứ đại Công đồng đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Trên nền móng là Truyền thống Mười hai Tông đồ, các công đồng Nicaea năm 325 (gương mặt nổi bật là thánh Athanasios Alexandreias), Constantinople năm 381 (thánh Basileios Cả), Ephesus năm 431 (thánh Kyrillos Alexandreias), Chalcedon năm 451 (thánh Leo Cả), đã xây lên bốn cột trụ giáo thuyết vững chắc mà Hội thánh hơn 1500 năm nay vẫn trung thành tin nhận và rao giảng. Trong những học thuyết rút ra từ Truyền thống đó, quan trọng vào bậc nhất có thể kể đến những cách thức để cắt nghĩa các bản văn Kinh Thánh.

Theo Truyền thống Giáo Phụ, có thể phân biệt hai loại nghĩa của Thánh Kinh: nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng, trong đó nghĩa thiêng liêng lại được chia thành, nghĩa luân lý và nghĩa dẫn đường. Sự hòa hợp sâu xa của chúng tạo thành Tứ giải Thánh Kinh. Về chức năng của từng loại ý nghĩa, thánh Tiến sĩ Tommaso d’Aquino viết rằng “tất cả các nghĩa của Kinh Thánh đều đặt căn bản trên nghĩa văn tự”.

Với nghĩa ẩn dụ, chúng ta có thể hiểu biết các biến cố một cách sâu xa hơn khi nhận ra ý nghĩa của chúng trong Đức Kitô. Cũng vậy, các biến cố được Thánh Kinh thuật lại, nhìn dưới góc độ nghĩa luân lý, phải dẫn đưa chúng ta đến hành động chính trực. Và cuối cùng, chúng ta cũng có thể nhìn các sự việc và các biến cố trong ý nghĩa vĩnh cửu của chúng, theo nghĩa chúng dẫn đường cho chúng ta về Quê trời. Ở đây, chúng ta có thể nhắc tới hai câu thơ Trung Cổ diễn tả tương quan giữa Tứ giải Thánh Kinh: “Littera gesta docet, quid credas allegoria, moralis quid agas, quo tendas anagogia” (nghĩa văn tự dạy về biến cố, nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, nghĩa luân lý dạy điều phải làm, nghĩa dẫn đường dạy điều phải vươn tới).

Quả vậy, Hội Thánh tuy luôn cố gắng thích ứng với những nhu cầu của thời đại, nhưng vẫn luôn giữ nguyên những kết nối mật thiết với Truyền thống Đức Tin lãnh nhận từ Chúa Giêsu và các Tông đồ.

Vào năm 1295, Đức Giáo hoàng Bonifacius VIII đã đặt ra danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh như là vinh dự tối cao cho những vị thánh nhân đã có đóng góp đặc biệt cho việc hướng dẫn các linh hồn. Ngài đã trao danh hiệu đó đầu tiên cho bốn vị Giáo phụ Tây phương: Ambrosius (339-397), Hieronymus (347-420), Augustinus Hipponensis (354-430), Gregorius Cả (540-604). Đây chính là Tứ đại Tiến sĩ Tây phương. Sau khi thánh Giáo Hoàng Pius V phong tặng danh hiệu tiến sĩ cho thánh Tommaso d’Aquino vào năm 1567, danh hiệu này cũng được trao cho bốn vị Giáo phụ Đông phương: Athanasios Alexandreias (296-373), Gregorios Nazianzenos (329-390), Basileios Cả (330-379), Iohannes Kim Khẩu (347-407). Các ngài chính là Tứ đại Tiến sĩ Đông Phương của Hội Thánh.

Vào năm 1517, Công đồng Laterano V như đánh dấu điểm kết thúc thời Trung cổ, vì cùng năm đó, Martin Luther đã cho niêm yết tuyên ngôn 95 điểm về lập trường Cải cách, rồi sau nhiều tranh luận đã nại đến một công đồng để xét xử các luận đề của ông.

Nhằm đáp lại các thách đố của nhóm Cải cách, năm 1545, Đức Giáo hoàng Phaolô III triệu tập Công đồng Trento và đề ra hai mục tiêu chính: xoá bỏ những tranh cãi làm thương tổn sự hợp nhất trong Giáo hội và thực hiện cải tổ kỷ luật-mục vụ. Công đồng chấp nhận một phần những chỉ trích của Luther, khi mà các ân xá bị lạm dụng biến thành mại thánh, mê tín dị đoan. Thực tế, chính nhờ những thách đố của phe Cải cách mà Công đồng đã có dịp minh định nhiều điểm đạo lý đức tin: tiêu chuẩn của quy luật đức tin (Thánh kinh hay thánh truyền?); vấn đề công chính hoá (con người được nên công chính nhờ đức tin hay có cần việc lành nữa?); hậu quả của việc công chính hoá (con người được thanh tẩy hoàn toàn từ nội tại, hay chỉ được che đậy bên ngoài?); bản chất bí tích Thánh thể (tính cách hy lễ cũng như sự hiện diện ra sao của Chúa Giêsu?) và bí tích truyền chức thánh (chức tư tế thừa tác khác với tư tế phổ quát?).

Sau cùng, vào năm 1566, thành quả làm việc của Công đồng đã được đúc kết lại trong cuốn Sách Giáo lý Roma của Công đồng Trento, được trình bày theo một lược đồ gọi là Tứ đại trụ Đức Tin: Tín lý trình bày theo kinh Tin Kính, Phụng vụ trình bày theo Bảy phép Bí Tích, Luân lý trình bày theo Mười Điều răn và việc Cầu nguyện trình bày theo kinh Lạy Cha. Lược đồ này thể hiện được cả sự phong phú lẫn tinh gọn, là nền tảng để xây dựng các cuốn giáo lý cho các Giáo hội địa phương suốt gần 500 năm qua. Vào năm 1992, khi ban hành Sách Giáo lý mới của Công đồng Vatican II, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II quyết định vẫn giữ nguyên lược đồ Tứ đại trụ Đức Tin đó.

Như vậy, tầm vóc của Hội Thánh có thể được nhận ra qua thông điệp Tin Mừng, sự bền bỉ của Truyền thống, học thuyết sáng giá của các thánh Tiến sĩ cũng như sự tường minh và tinh nhạy của các công đồng hoàn vũ. Ngoài ra, tầm vóc đó còn được thể hiện ở một khía cạnh hữu hình là các ngôi thánh đường, từ bình thường cho đến mức diễm lệ. Thực thế, các ngôi thánh đường trong Hội Thánh được phân rõ thành các cấp độ từ thấp đến cao là nhà nguyện, nhà thờ giáo xứ, đền thánh, nhà thờ chính toà giáo phận, vương cung thánh đường.

Cấp độ cao nhất, Đại Vương cung Thánh Đường, từ trước tới nay chỉ được dành cho một số ít ngôi nhà thờ cổ kính ở thành Roma. Đó chính là Tứ Đại Vương cung Thánh đường: Basilica Sancti Ioannis Baptistae et Ioannis Evangelistae ad Lateranum (324), Basilica Sancti Pauli extra mœnia (324), Basilica Sanctae Mariae Maioris (432), Basilica Sancti Petri (1626). Tuy nhiên, linh hồn của các ngôi thánh đường chính là những Kitô hữu đang cầu nguyện với Thiên Chúa, bằng tham dự thánh lễ, bằng việc đọc Kinh Thánh và đối thoại với Thiên Chúa, hay bằng các kinh nguyện đọc thầm.

Có thể nói ngay mà không sợ sai lầm rằng lời kinh quen thuộc nhất đối với mọi Kitô hữu chính là chuỗi kinh Mân Côi. Nguồn gốc của nó có thể tìm về thời Trung Cổ, khi các tu sĩ thời đó có thói quen đọc 150 bài Thánh Vịnh mỗi ngày trong giờ Kinh Phụng vụ. Nhưng có nhiều tu sĩ xuất thân bình dân không biết tiếng Latin nên họ đọc mà không hiểu, thế là họ đã đọc 150 kinh Lạy Cha để thay thế. Để đếm các kinh ấy, người ta dùng những hạt gỗ xâu vào nhau nhờ một sợi dây và gọi đây là tràng hạt kinh. Hạ kỳ Trung cổ là thời khởi sắc của việc sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, giáo dân bắt đầu phổ biến việc đọc 150 kinh Kính Mừng, được phân ra làm 15 chục, gọi là kinh Mân Côi.

Vẫn còn một bước nữa, diễn ra vào thế kỷ XV, để tạo nên căn tính của kinh Mân Côi, đó là gắn liền kinh này với các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu và Mẹ Maria theo Tân Ước, được chia làm ba nhóm: Mầu nhiệm năm Sự Vui (Mysteria Gaudiosa), Mầu nhiệm năm Sự Thương (Mysteria Dolorosa), Mầu nhiệm năm Sự Mừng (Mysteria Gloriosa). Cấu trúc này được duy trì cho đến năm 2002, khi mà Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II, với mong muốn “để làm cho việc đạo đức cá nhân thân thuộc với mỗi người tín hữu Công giáo là đọc kinh Mân Côi được tăng triển hơn nữa”, đã thêm Mầu nhiệm Năm Sự Sáng (Mysteria Luminosa) vào kinh Mân Côi. Như vậy, từ nay khi cầu nguyện bằng chuỗi kinh Mân Côi, người Kitô hữu được chiêm ngắm không còn chỉ là ba mà là bốn mầu nhiệm Đức Tin, gọi là Tứ nhiệm Mân Côi.

5. Tất cả là bao nhiêu bộ tứ?

Chúng ta đã cùng nhau rảo qua một vài cung đường ít ai đi, để tìm dấu vết và sự biến hoá của những bộ tứ đầy thú vị và thâm thuý, hoa mĩ và tinh tế, quái dị và choáng ngợp, hiền minh và vĩ đại, huyền bí và linh thiêng. Chúng tôi sẽ thử tổng kết lại từ đầu đến giờ chúng ta đã cùng nhau điểm qua bao nhiêu bộ tứ nổi bật có trong Kinh Thánh và lịch sử Hội Thánh: Tứ linh Khải huyền, Tứ vị Thánh sử, Tứ thuỷ Địa đàng, Tứ vị Tổ mẫu, Tứ đại Bảo khí, Tứ đại Ngôn sứ, Tứ đại Phúc danh, Tứ quái sách ngôn sứ Daniel, Tứ kị sĩ sách ngôn sứ Zechariah, Tứ trụ Nhân đức, Tứ kị sĩ Khải huyền, Tứ đại Công đồng, Tứ giải Thánh Kinh, Tứ đại Tiến sĩ Tây phương, Tứ đại Tiến sĩ Đông Phương, Tứ đại trụ Đức Tin, Tứ Đại Vương cung Thánh đường, Tứ nhiệm Mân Côi.

Tất cả là 18 bộ.

Đây là tất cả những bộ tứ mà chúng tôi có thể nhớ được. Bạn còn biết bộ tứ thú vị nào trong Kinh Thánh và lịch sử Hội Thánh nữa không, hãy cũng chia sẻ với mọi người nào!

Lạc Vũ Thái Bình

Huế, 9-2022

Tài liệu tham khảo

  • Kinh thánh, bản dịch 2011
  • Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo
  • Dẫn nhập Thánh Kinh – Phạm Hữu Quang
  • Tìm hiểu Ngũ Thư – Phạm Hữu Quang
  • Tìm hiểu Các sách Khôn ngoan – Phạm Đình Trí
  • Đăng trình với Giáo phụ – Benedictus XVI
  • 36 thánh Tiến sĩ – Benedictus XVI
  • Giáo Hội đi trong nhân loại – Nguyễn Thế Thoại
  • Sự minh định của địa lý – Robert D. Kaplan
  • Chữ số hay lịch sử một phát minh vĩ đại – Georges Ifrah
Đánh giá post

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s

Leave a Comment