Ai Cập Cổ Đại

Tổ chức chính quyền Ai Cập cổ đại

Chính quyền Ai Cập nhìn chung cũng khá giống Trung Quốc cổ đại, vua trị vì cùng triều đình trung ương, và các lãnh chúa cát cứ địa phương

Chính quyền Ai Cập nhìn chung cũng khá giống Trung Quốc cổ đại, vua trị vì cùng triều đình trung ương, và các lãnh chúa cát cứ địa phương

Chính quyền Ai Cập cổ đại theo hình thức quân chủ thần quyền, trong đó vua giữ thiên mệnh, là trung gian giữa thần linh và con người, và thực thi ý  muốn  của thầnlinh thông qua luật  pháp và các chính sách mà ông ban hành.

Chính quyền trung ương Ai Cập hình thành rõ nét khoảng năm 3150 TCN khi vua Namer hợp nhất hai miền thượng và hạ sông Nile. Nhưng trước thời điểm này thì các Vua Bọ Cạp thời kỳ Tiền Vương Triều (6000-3150TCN) cũng đã áp dụng một số hình thái chính quyền quân chủ, nhưng cách vận hành ra sao thì nay không rõ.

Các nhà Ai Cập học thế kỷ 19 chia lịch sử nền văn minh này thành các thời kỳ để thuận tiện cho việc nghiên cứu. Những thời kỳ có chính quyền trung ương mạnh thì gọi là vương quốc, khi suy yếu hoặc chia rẽ thì gọi là thời kỳ chuyển tiếp. Bản thân người Ai Cập xưa không có chia lịch sử của họ như vậy. Các ký lục thời Trung Vương Quốc Ai Cập (2040-1782 TCN) khi viết về Thời Kỳ Chuyển Tiếp Thứ Nhất (2181-2040 TCN) có lẽ chỉ dùng từ thời loạn, chứ không đặt ra bất kỳ cái tên cụ thể nào.

Tượng một ký lục Ai Cập, niên đại khoảng năm 2600-2350 TCN (Vương triều Ai Cập thứ 4 hoặc thứ 5)
Tượng một ký lục Ai Cập, niên đại khoảng năm 2600-2350 TCN (Vương triều Ai Cập thứ 4 hoặc thứ 5)

Cách vận hành của chính quyền Ai Cập thay đổi đôi chút qua các thế kỷ, nhưng vẫn giữ lại cái căn bản đã thiết lập thời Vương Triều Ai Cập Thứ Nhất (3150-2890 TCN). Vua cai trị đất nước, dưới vua có quan tể tưởng là nhân vật số 2, có quần thần, ký lục, thái thú coi các tỉnh (gọi là nomarch), quan lệnh coi các huyện, đến Thời Kỳ Chuyển Tiếp Thứ Hai (1782-1570) thì có thêm hệ thống sai nha.

Nhà vua ngự trong hoàng cung ban hành các chiếu chỉ, sắc lệnh, và các dự án xây dựng. Hệ thống quan lại phức tạp bên dưới sẽ chịu trách nhiệm thực thi vương mệnh. Hình thức chính quyền kiểu này kéo dài từ 3150 TCN cho tới tận năm 30 TCN khi Ai Cập sát nhập vào đế quốc La Mã.

Thời kỳ sơ triều và Cổ Vương Quốc

Quân chủ của Ai Cập được gọi là vua. Tới thời Tân Vương Quốc Ai Cập (1570-1069) thì danh xưng pharaoh (ngôi nhà vĩ đại) mới được áp dụng. Vị vua đầu tiên là Namer (cũng gọi là Menes) đã thiết lập chính quyền trung ương đầu tiên sau khi hợp nhất hai miền Thượng và Hạ sông Nile bằng con đường vũ trang. Kinh tế Ai Cập trọng nông, dùng phương thức hàng đổi hàng. Tầng lớp bần nông canh tác đất đai, cống nộp hoa lợi cho chủ đất (giữ lại một phần cho bản thân), chủ đất nộp lại cho chính quyền để dùng trong giao thương, và phân bổ đến các cộng đồng khác.

Vua Hor-Aha (3100-3050 TCN), người kế vị Namer, có sáng kiến gọi là Shesu Hor (Theo chân Horus). Vua cùng với triều thần sẽ đi tuần du khắp đất nước để thần dân được diện kiên thiên nhan. Nhà Ai Cập học Toby Wikinson nhận xét:

Tuần du Shemsu Hor nhằm nhiều mục đích. Thứ nhất thần dân sẽ nhìn thấy vương quyền bằng xương bằng thịt; tiếp đến triều thần sẽ mục sở thị những gì đang xảy ra trên thực tế, thực thi chính sách, giải quyết tranh chấp, và ban phát công lý; Thứ hai là giải quyết chi phí vận hành triều đình bằng cách luân lưu nó từ nơi này đến nơi khác; và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tạo điều kiện đánh giá hệ thống và đánh thuế. Ít lâu sau, vào Vương Triều Thứ Hai, triều đình mặc nhiên công nhận tiềm năng kinh tế trong những cuộc tuần hành Theo chân Horus này. Sau đó, chính quyền còn kết hợp điều tra tài lực nông nghiệp của đất nước trong những chuyến tuần du kiểu này.

Shemsu Hor (sau này được biết đến với tên gọi Kiểm Kê Gia Súc Quốc Gia) trở thành phương tiện để chính quyền đánh giá tài sản mỗi cá nhân nhằm thu thuế.

Mỗi quận (nome) được chia thành các tỉnh. Có quận thú coi quận cùng với các quan chức nhỏ hơn, rồi tới quan lệnh coi các thị trấn.

Nhưng triều đình không tin tưởng các bản báo cáo của đám quan này nên đích thân nhà vua cùng đình thần sẽ tới tận nơi để tự mình kiểm kê tài sản dân chúng. Vậy nên Shemsu Hor là một sự kiện trọng đại hàng năm (hoặc về sau là hai năm một lần) trong đời sống của Ai Cập. Các sử gia Ai Cập cũng dựa vào Shemsu Hor để ghi nhận chính xác hơn các triều đại  của các ông vua, vì khi đi tuần hành đều có ghi chép ngày tháng cụ thể.

Quan thu thuế phải đối chiếu với đánh giá của các đình thần chuyên lo ngân khố cho nhà vua, theo đó mà thu thuế từ mỗi quận, tỉnh, và thị trấn, rồi chuyển về triều đình. Số hoa lợi thu được này sẽ được triều đình dùng cho các việc mua bán. Suốt thời kỳ Sơ Triều, hệ thống kiểu này vận hành ổn thỏa tới mức vào Vương Triều Ai Cập Thứ Ba (2670-2613 TCN) người ta có thể tài trợ cho những xây dựng lớn cần nhiều nhân lực và vật lực, nổi tiếng nhất là Kim Tự Tháp Bậc Thang của vua Djoser. Đến thời Cổ Vương Quốc Ai Cập (2613-2181), chính quyền trung ương giàu tới mức đủ tiền xây những công trình khổng lồ như các kim tự tháp Giza.

Nhân vật quyền lực số 2 sau Pharaoh là quan tể tướng. Có khi có tới 2 vị đương nhiệm, một coi vùng Thượng, và một coi vùng Hạ. Quan tể tưởng vừa là người phát ngôn, vừa là người đại diện của nhà vua, thường được chọn trong số họ hàng tông tộc, hoặc ai đó rất thân với hoàng gia. Tể tướng coi toàn bộ triều thần, chịu trách nhiệm thực thi vương mệnh. Thời Cổ Vương Quốc, các tế tướng còn quản lý các công trình xây dựng và đủ các vấn đề khác.

Tượng chân dung Imhotep, kiến trúc sư Kim Tự Tháp Bậc Thang tại Saqqura, tạo hình như một ký lục đang ngồi.
Tượng chân dung Imhotep, kiến trúc sư Kim Tự Tháp Bậc Thang tại Saqqura, tạo hình như một ký lục đang ngồi. Tượng đồng này có niên đại Thời Kỳ Cuối, sau khi ông đã mất khoảng 2000 năm và được coi như vị thần.

Cuối thời Cổ Vương Quốc, các quan tể tướng có phần lơ là vì nắm quá nhiều quyền lực. Tiền bạc của triều đình bị tiêu hết vào việc xây cất những đại công trình ở Giza, Abusir, Saqquara, và Abydos, mà coi sóc các công trình này khi chúng hoàn thành thường là giới tăng lữ và các thái thú, tổng trấn. Đám này mỗi ngày một giàu lên. Càng giàu thì càng mạnh, quyền lực của đám này gia tăng, khiến họ càng lúc càng ít quan tâm tới những gì nhà vua nghĩ hay những gì tể tướng yêu cầu. Quyền lực giới tăng lữ và thái thú gia tăng thì quyền lực của chính quyền trung ương phải giảm, kết hợp với các yếu tố khác, cuối cùng dẫn tới sự sụp đổ thời kỳ Cổ Vương Quốc.

Thời Kỳ Chuyển Tiếp Thứ Nhất và Thời Kỳ Trung Vương Quốc

Đầu Thời Kỳ Chuyển Tiếp Thứ Nhất nhà vua vẫn từ kinh đô Memphis mà truyền lệnh ra, nhưng quyền lực đã yếu đi nhiều. Các quan thái thú cát cứ địa phương của họ, thu thuế, xây đền đài cho bản thân, thậm chí cả lăng mộ. Các vua đầu TKCT Thứ Nhất (vương triều thứ 7 đến thứ 10) yếu tới mức chẳng ai còn nhớ tên tuổi hay thời đại của họ. Còn các quan thái thú thì rất mạnh. Sử gia Margaret Bunson giải thích vai trò truyền thống của họ trước TKCT Thứ Nhất:

Quyền lực của những lãnh chúa địa phương bị kiềm hãm trong thời các Pharaoh mạnh, và nhìn chung họ phục vụ triều đình trung ương, chấp nhận vai trò phụ dung, chỉ dưới nhà vua mà thôi. Địa vị này chứng tỏ quyền cai trị một địa phận hoặc một tỉnh cụ thể nhân danh nhà vua. Các quan chức này lo các việc dân sự, quân sự, đất đai, thuế má, và ngân sách ở địa phương. Họ phải báo cáo cho tể tướng và kho bạc hoàng gia những vấn đề nằm trong quyền tài phán của họ. (103)

Nhưng đến TKCT Thứ Nhất thì tình hình hoàn toàn khác. Các quan thái thú dùng tiền của để tự phục vụ bản thân và địa phương của họ. Vua ở Memphis, có lẽ muốn cố gắng giành lại uy quyền đã mất, dời đô đến thành Herakleopolis, nhưng tình hình không mấy khả quan hơn.

Khoảng năm 2125 TCN, một lãnh chúa được biết đến với cái tên Intef I làm chủ khu vực Thebes, vùng Thượng Ai Cập, nổi loạn chống lại triều đình Memphis. Hành động này của ông “tạo cảm hứng” cho những người nối nghiệp ông, và cuối cùng lật đổ vua Mentuhotep II ở kinh đô mới Herakleopolis, khoảng năm 2040, mở ra thời kỳ Trung Vương Quốc.

Mentuhotep II trị vì từ kinh đô Thebes. Tuy ông chấm dứt thời kỳ của các cựu vương và mở ra triều đại mới, nhưng mô thức cai trị thì không có gì thay đổi. Thời Cổ Vương Quốc luôn được xem là giai đoạn hoàng kim của lịch sử Ai Cập với các kim tự tháp và các khu phức hợp khổng lồ ở Giza luôn gợi nhắc đến vinh quang của quá khứ. Một trong những lề lối bị lãng quên thời hậu Cổ Vương Quốc mà ông vua mới khôi phục lại đó là luôn duy trì hai cơ quan cho vùng Thượng và Hạ Ai Cập. Bunson giải thích:

Nhìn chung, mỗi chức vụ ở triều đình trung ương đều được nhân đôi, với khác biệt lớn. Một người cho vùng Thượng Ai Cập, và một người cho vùng Hạ Ai Cập. Tính song song này còn được áp dụng trong cả việc kiến thiết, mỗi cung điện có hai lối vào, hai đại điện v.v. Vương quốc tuy chỉ có một, nhưng một số truyền thống đã có từ thời cha ông trong truyền thuyết, những vị vua bán thần của thời tiền Sơ Triều, và ý niệm về tính đối xứng.

Việc nhân đôi các cơ quan nhà nước không chỉ để giữ bình đẳng hai miền nam bắc, mà quan trọng hơn là để nhà vua kiểm soát hiệu quả. Amenemhat I, người kế vị Mentuhotep II, dời đô đến  thành Iti-tawy, gần Lisht, và tiếp tục các chính sách cũ, nhanh chóng làm giàu cho vương triều, đủ để bắt đầu các dự án xây dựng cho riêng ông.

Tượng đá vôi tạc đầu của Mentuhotep II. Vương triều Ai Cập thứ 11, khoảng năm 2061-2010 TCN.
Tượng đá vôi tạc đầu của Mentuhotep II. Vương triều Ai Cập thứ 11, khoảng năm 2061-2010 TCN. Đây là đầu của một cây cột trong lăng mộ Deir el-Bahari ở Thebes. Mentuhotep II là vua xứ Thebes, cai trị trong nửa thế kỷ, và hợp nhất Ai Cập vào cuối TKCT Thứ Nhất, 20134-2040 TCN (Bảo tàng Vatican, Rome).

Việc dời đô từ Thebes đến Lisht có thể là nhằm đoàn kết Ai Cập hơn nữa, vì chính quyền trung ương sẽ nằm ở giữa đất nước, thay vì về phía nam. Nhằm kiểm soát quyền lực của các các thái thú, Amenemhat I lần đầu tiên xây dựng quân đội chính quy trực thuộc nhà vua. Trước ông, quân đội của yếu được các thái thú tuyển mộ từ địa phương rồi điều về trung ương. Các đạo quân này sẽ ít nhiều trung thành với thái thú của họ hơn là với nhà vua, và gắn kết với địa phương của mình thay vì đất nước. Còn với quân đội chính quy thì khác, họ chỉ biết có vua mà thôi, và tính đoàn kết cũng như tinh thần quốc gia sẽ mạnh hơn.

Sensusret I (1971-1926 TCN), người kế vị Amenemhat, duy trì chính sách như cũ và làm giàu thông qua thương mại. Chính Senusret I đã xây ngôi đền đầu tiên cho thần Amun tại đất Karnak, và khởi công một trong những kiến trúc hùng vĩ nhất mà tín ngưỡng Ai Cập từng tạo ra. Ngân sách cho những dự án khổng lồ này đến từ việc buôn bán, mà để buôn bán thì phải đánh thuế người dân. Wikinson giải thích cơ chế này như sau:

Thu thuế ở Ai Cập theo kiểu phần trăm sản lượng hoa màu, và có một hệ thống quan lại trên khắp đất nước lo việc này. Rõ ràng họ áp dụng các biện pháp cưỡng bức. Văn tự để lại từ giới chức chính quyền, chủ yếu dưới dạng ấn khắc, giúp ta tái tạo được công việc của kho bạc nhà nước, cơ quan quan trọng hàng đầu ngay từ những ngày đầu tiên của lịch sử Ai Cập. Sản lượng hoa màu thu về cho nhà nước sẽ được xử lý theo một trong hai cách. Một phần chuyển trực tiếp đến các phân xưởng quốc gia để sản xuất các thành phẩm như gia súc thì lấy mỡ và da thuộc, lợn thì mổ thịt, cây lanh thì lấy sợi, ngũ cốc thì làm bánh, nấu rượu. Các sản phẩm giá trị gia tăng này sẽ được đem đi bán lấy lợi nhuận, tạo thêm thu nhập cho nhà nước. Một phần được tái phân phối dưới dạng tiền công trả cho quan lại, qua đó tài trợ cho triều đình và các dự án. Và phần còn lại (chủ yếu là ngũ cốc) sẽ được trữ vào kho thóc, có ở khắp nơi trên đất nước. Một phần số ngũ cốc tích trữ này được dùng ở dạng thô để tài trợ cho các hoạt động của chính quyền, nhưng phần lớn là để dự phòng cho những trường hợp khẩn cấp, như những năm mất mùa hay hạn hán gì đó thì mang ra cứu tế.

Các quan thái thú thời Trung Vương Quốc hợp tác chặt chẽ với nhà vua trong việc phân bổ nguồn lực. Việc này diễn ra hiệu quả vì quyền tự trị của họ được triều đình tôn trọng theo cách mà trước đây không có. Nghệ thuật Ai Cập thời Trung Vương Quốc có những bước tiến lớn so với thời Cổ Vương Quốc, mang đậm dấu ấn vùng miền và phong cách độc đáo hơn so với sự thể hiện “một màu” theo quy định như trước đây. Hơn nữa, tư liệu thời kỳ này cho thấy các quan thái thú rất được các vua thuộc vương triều thứ 12 trọng vọng, không bị coi nhẹ như thời Cổ Vương Quốc.

Dưới thời vua Senusret III (1878-1860) quyền lực các thái thú sút giảm, còn các phiên trấn được cơ cấu lại. Tước hiệu thái thú (nomarch) biến mất hoàn toàn khỏi các sử liệu trong thời vua Senusret III, cho thấy nó đã bị loại bỏ. Các quan cai trị địa phương tuy không còn quyền tự do như hồi ban đầu, nhưng vẫn thu được nhiều lợi ích. Chỉ là bây giờ họ phải chịu kiểm soát gắt gao hơn từ chính quyền trung ương.

Vương triều Ai Cập thứ 12 thời Trung Vương Quốc (2040-1802 TCN) được xem là “thời hoàng kim” của chính quyền, nghệ thuật, và văn hóa Ai Cập vì có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời, dân giàu nước mạnh, chính quyền trung ương mạnh mẽ yểm trợ cho thương mại và sản xuất. Sản xuất đại trà các vật phẩm thời kỳ này như tượng đất nung (búp bê shabti chẳng hạn) và đồ trang sức trong TKCT Thứ Nhất đã dẫn tới sự gia tăng chủ nghĩa tiêu thụ số đông trong thời kỳ Trung Vương Quốc, mà thời kỳ này kỹ thuật chế tác còn điêu luyện hơn.

Vương triều thứ 13 (1802-1782 TCN) yếu hơn vương triều thứ 12. Mức sống cao và tiện nghi thời Trung Vương Quốc suy giảm dần khi các hào chủ địa phương nắm giữ ngày càng nhiều quyền lực, giới tăng lữ thu gom tiền của, và chính quyền trung ương hoạt động càng lúc càng kém hiệu quả. Vùng viễn bắc Ai Cập, tại Avaris, có dân Semit hình thành một trung tâm buôn bán. Đến thời Vương triều thứ 13 họ mạnh dần lên và chiếm quyền tự chủ, rồi mở rộng khu vực kiểm soát. Họ được gọi là người Hyksos (phiên vương), sự trỗi dậy của họ báo trước hồi cuối của thời kỳ Trung Vương Quốc, và khởi đầu TKCT Thứ Hai.

5/5 - (2 votes)
Ai Cập Cổ Đại Chính Trị Sử

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s