Sử Trung Quốc

Phân tích sơ lược về sự thật cuộc Tây chinh lần thứ hai của quân Thái Bình

Một bài phân tích sơ lược về cuộc chinh tây của quân Thái Bình trong cuộc khởi nghĩa lớn nhất thời cận đại chống lại triều đình nhà Thanh của nông dân Trung Hoa.

thai binh thien quoc chien tranh

Ngày 26 tháng 3 năm thứ 10 Canh Thân (1860), Trung Vương, Anh Vương, Phụ Vương, Thị Vương dùng kế vây Ngụy cứu Triệu. đánh tan đại doanh Giang Nam của Thanh đình, thừa thắng đông hạ Tô Thường. Ngày 23 tháng 8, đại quân của Anh Vương từ Thiên Kinh vượt sông, men theo bờ bắc tiến sang phía tây, định đánh Vũ Hán để giải vây cho An Khánh. Trước đó, Phụ Vương, Thị Vương, Hữu quân chủ tướng Lưu Quan Phương, Định Nam chủ tướng Hoàng Văn Kim đã tiến quân vào Hoản Nam theo bờ nam sông Trường Giang, bắt đầu trận chiến Ninh Quốc kéo dài tới hơn 70 ngày. Nhưng quân của Trung Vương, một trong số hai cánh quân chủ lực của Thiên Quốc lại lần lữa án binh bất động sau khi rút lui khỏi Thượng Hải từ ngày 14 tháng 7, không có một hành động lớn nào. Lập luận thông thường là Trung Vương không tích cực với việc Tây chinh, tiêu cực chống đối, dẫn tới việc bỏ lỡ thời cơ chiến đấu.

Nhưng Trung Vương trong bản cung của mình lại giải thích như vậy: “Sau khi giải vây cho Gia quận, trở về tỉnh chính là trung tuần tháng tám, Thiên Vương hạ nghiêm chiếu, lệnh cho ta thượng du, giục ta cầm quân tảo bắc, lúc đó cũng chẳng có kế gì hay, đúng lúc có……hơn 40 nhóm khởi nghĩa, ……đầu quân, là đem sự tình và nguyên do cụ thể tấu lên, là để ta đi triệu tập mấy chục vạn người này, sau đó sẽ trở về tuân chỉ tảo bắc. Tuy là vậy, chủ ta không nghe, bắt ta phải dừng lại. Lập tức phái quân điểm tướng lên đường…… cử binh từ Tô khởi hành đến kinh, khởi tấu tình hình sau này, không muốn lên phía bắc, chủ ta rất giận, trách phạt nặng nề…… trái lại lệnh chủ, tin tưởng tỉnh bàn, xuất sư tới Giang Tây, Hồ Bắc.”

Theo như cách nói của Lý Tú Thành thì nguyên nhân khiến ông ta lần lữa án binh bất động thực sự là có sự bất đồng với Thiên Vương về phương hướng chiến lược, nhưng đó tuyệt đối không phải là sự bất đồng giữa việc Tây chinh và không Tây chinh như chúng ta thường nghĩ, mà là sự bất đồng về việc Tây chinh hay tảo bắc. Nói cách khác, người không muốn Tây chinh không phải là Trung Vương như chúng ta trước giờ vẫn nghĩ mà chính là bản thân Thiên Vương, bởi vì ý định của Hồng Tú Toàn là “tảo bắc” – muốn Trung Vương tấn công Bắc Kinh.

Đương nhiên, cách nói trong bản cung chỉ là lời nói từ một phía của Lý Tú Thành, chúng ta không thể tin theo một cách mù quáng, vậy thì đâu là sự thật?

Nhìn bằng con mắt của hậu thế, việc bao vây An Khánh của Tương quân là một đòn chí mạng khiến Thiên Quốc diệt vong sau đó, nhưng vua tôi của Thiên Quốc lúc đó có ý thức được điều này hay không? Hiện nay chúng ta trích dẫn cách nói rằng Thiên Vương khi đó đã tỉnh táo ý thức được tầm quan trọng của việc “nỗ lực tranh đấu ở thượng du”, và chỉ trích Trung Vương “không coi trọng An Khánh”, cho tới nhận định vào tháng 9 năm thứ 10 Canh Thân (1860) quân Thái Bình đã có kế hoạch chia quân làm hai hướng nam bắc, vây đánh Vũ Hán để giải vây cho An Khánh, hầu như đều đến từ bản cung của Can Vương, người bị bắt ba năm sau đó, nhưng xem xét từ những sử liệu được ghi chép khi đó thì dường như không thấy được ấn tượng về những điều này.

Ngày mồng 7 tháng 4 năm thứ 10 Canh Thân, Tăng Quốc Thuyên đóng quân ở Tập Hiền Quan, bao vây uy hiếp An Khánh, được cho là sự bắt đầu của việc bao vây thành An Khánh để tiêu diệt quân cứu viện. Nhưng lúc này Anh Vương đang chia quân làm ba lộ, tấn công dữ dội vào Dương Châu, Qua Châu, Thiệu Bá, nhòm ngó khu lương Lý Hạ Hà, bộ tướng đắc lực nhất của ông ta là Lưu Xương Lâm, Hoàng Văn Kim thì theo đại quân của Trung Vương đánh Thường Châu. Nếu nói rằng lúc này Anh Vương hoặc là chưa nhận được tin tức của Hoản Bắc, hoặc là bị Thiên Vương ra nghiêm lệnh ép buộc phải đông hạ Tô Thường, vậy thì làm sao có thể giải thích được những hành động của Anh Vương và những bộ tướng trong khoảng thời gian dài tới hơn 4 tháng từ ngày 21 tháng 4 giải vây Dương Châu tới ngày 23 tháng 8 xuất quân Tây chinh?

Trong thời gian này, bản thân Anh Vương luôn quanh quẩn giữa các vùng Giang Phố, Trừ Châu, Lai An, Toàn Tiêu, ngẫu nhiên thì đánh chứ không tích cực hành động, thậm chí một dạo còn đích thân nam hạ Tô Châu, vì những chuyện nhỏ nhặt như địa bàn, lương thực mà nảy sinh “hiểu nhầm” với Trung Vương, mãnh tướng số một của ông ta là Lưu Xương Lâm gần như dừng hẳn lại ở Thường Châu, còn một lão tướng khác là Hoàng Văn Kim thì trước đi Nghi Hưng, sau đánh Giang Âm, Thường Thục, tuân lệnh của Anh Vương, trưng thu lương thực, thuế má để tiếp tế cho Hoản Bắc, vì thế khiến cho thuộc hạ của Trung Vương không hài lòng.

Không chỉ có vậy, ông ta còn từng tiến chiếm huyện Dư Hàng, đánh mãi tới cầu Mại Ngư gần Hàng Châu. Có thể thấy, Anh Vương lúc này không quá coi trọng sự uy hiếp của Tương quân với An Khánh. Điều này có thể là do Hoản Bắc luôn được củng cố, chủ lực của Tăng Quốc Thuyên lại thận trọng, tiến quân chậm chắc, không đánh thọc sâu như Phúc Tề và Lý Tục Tân năm trước, do đó khiến Anh Vương có tư tưởng lơ là mất cảnh giác. Đất phân của Anh Vương ở Hoản Bắc còn như vậy thì các vương khác đương nhiên cũng không ngoại lệ. Thiên Vương, Can Vương, Trung Vương luôn tập trung sự chú ý vào Tô Nam, còn Phụ Vương, Thị Vương và các tướng lĩnh như Lưu Quan Phương, Cổ Long Hiền thì lấy Vu Hồ làm căn cứ, kiên trì bền bỉ gặm nhấm các cứ điểm của quân Thanh ở Hoản Nam. Không có nhiều ghi chép có thể thuyết phục người ta tin rằng Thiên Quốc có một kế hoạch “Tây chinh giải vây cho An Khánh” ở thời điểm đó.

Cho dù tới ngày 23 tháng 8, Anh Vương xuất quân Tây chinh, cũng không thấy mục tiêu của nó là Vũ Hán. Chúng ta có thể thấy đại quân của Anh Vương vượt sông ở Tân Giang Đầu nơi Cửu Phục Châu, ngày mồng 1 tháng 9 chiếm cầu Định Viễn, ngày mồng 5 vây Thọ Châu, ngày 13 toàn quân vây đánh Thư Thành nhưng không hạ được, chuyển sang Đồng Thành ở hướng tây, từ ngày 17 tháng 10, trước sau đại chiến với các tướng Thanh là Đa Long A, Lý Tục Nghi ở Quải Xa Hà, Vọng Hạc Đôn, đều thua trận, ngày 24 tháng 12, chuyển sang đánh Tung Dương, giằng co với tướng Thanh Lý Thành Mưu, hàng tướng Vi Tuấn trong hơn một tháng.

Từ đường tiến quân của Anh Vương thì không khó để nhìn ra ý đồ tác chiến của ông ở giai đoạn này không phải là “vây Ngụy cứu Triệu” để gián tiếp cứu viện cho An Khánh, mà là trực tiếp đánh chiếm hai vị trí chiến lược ở yết hầu của An Khánh là Đồng Thành và Tung Dương. Cũng chính là nói, ý đồ chiến dịch của ông chính là phối hợp với quân phòng thủ An Khánh, trực tiếp đánh tan Tương quân đang vây thành của Tăng Quốc Thuyên. Hãy thử tham chiếu những hành động của các tướng lĩnh khác của quân Thái Bình trong giai đoạn này: Trung Vương lần lữa án binh bất động (theo như cách nói của ông ta thì Thiên Vương luôn ép buộc ông tảo bắc), sau khi xuất quân vào tháng 11, lại nóng lòng vội vã qua Hoản Nam tới Vụ Nguyên của Giang Tây, điều này tương đối phù hợp với ý “tin vào tình bạn” muốn hội họp với quân khởi nghĩa ở Giang Tây mà ông ta đã viết trong bản cung; Các chư vương chư tướng khác thì mắc kẹt ở Hoản Nam, sau lại loanh quanh ở một dải Kỳ Môn, Hưu Ninh (mặc dù Tăng Quốc Phiên tự mình đóng quân ở Kỳ Môn, do đó bị Lưu Quan Phương vây khốn, nhưng sử liệu đã chứng minh quân Thái Bình không biết thông tin này, tấn công Kỳ Môn, Hưu Ninh, Kiến Đức chỉ là những hành động quân sự thông thường nhằm chiếm đất và lấy lương mà thôi); Thậm chí Can Vương, người tuyên bố đã đích thân vạch ra kế hoạch chiến lược đánh Vũ Hán để giải cứu An Khánh, cầm “bút vàng hoa vàng” do Thiên Vương ngự ban xuất chinh, xuất quân từ cuối năm thứ 10 Canh Thân, tới tháng 2 năm sau thì hồi kinh, luôn loanh quanh ở một dải nam An Huy, bắc Giang Tây, Ninh Quốc, Nam Lăng, Toại An, bất luận là từ phương hướng hành quân hay từ trong “quân thứ thực lục” một ghi chép giống như nhật ký của ông ta, đều không nhìn ra mục tiêu của chiến dịch là Vũ Hán, thậm chí không nhìn ra lần xuất sư này của ông ta có tính cấp bách “cứu binh như cứu hỏa” vào thời điểm đó.

Người viết cho rằng, nửa sau năm thứ 10 Canh Thân (1860), Thiên Vương, Can Vương thực sự không quá lưu tâm đến sự uy hiếp của quân Thanh đối với An Khánh, mà chú ý nhiều hơn tới chuyển biến của tình thế ở phương bắc – khi đó Anh Pháp tấn công Bắc Kinh, Hàm Phong chạy đi Nhiệt Hà, rồi ngã bệnh không dậy nổi, những tin tức này, những người thường giao thiệp với người nước ngoài như Thiên Vương, Can Vương đều biết và ngạc nhiên mừng rỡ;

Từ những ghi chép của người Tây dương như Harry Smith Parkes, Nhã Linh, Robert j.Forrest, khi đó trong thành Thiên Kinh thường thường công khai dán những tờ tin tức về chiến thắng của quân Anh Pháp trước quân Thanh, và ở cuối những tờ tin tức này đều viết nhưng thuật ngữ của riêng Thiên Quốc như “giết hết yêu ma”; Từ Thiên Vương, Can Vương, Trung Vương cho tới các tướng lĩnh bình thường như Hầu Dụ Điền, Lý Hồng Chiêu đều cho rằng người Tây dương “đã là đồng giáo, nên tất là đồng bào”, một dạo còn vui hết sức vui mừng với việc bọn họ công chiếm Quảng Châu, Bắc Kinh, ảo tưởng tận dụng cơ hội tốt này để lật đổ Thanh triều. Trong hoàn cảnh như vậy, có ý định phái Trung Vương “tảo bắc” cũng không có gì là lạ.

Trên thực tế, không chỉ đại quân của Trung Vương, Anh Vương cũng đều được bố trí ở vùng đất trống từ Lý Hạ Hà đến Trừ Châu trong khoảng thời gian dài, không ngừng tìm cách đánh thông còn đường lên phía bắc. Mà vào thời điểm đo Niệm quân và Phúc Đảng, hội Trường Thương đang có thanh thế rất mạnh, trên thực tế cánh phía bắc là hướng ít khẩn cấp nhất chung quanh Thiên Kinh, bố trí đại quân ở đó chỉ có thể là hành động chuẩn bị cần thiết cho các hoạt động tấn công. Thậm chí tới mùa thu một năm sau (năm thứ 11 Tân Dậu – 1861), không lâu sau khi Hàm Phong ốm chết, Can Vương còn viết một bài hịch văn, ý định muốn nhân lúc “nhà người có tang” tảo bắc, tiến đánh Bắc Kinh.

Trong bài hịch có nhắc tới Hàm Phong ốm chết vào “ngày 16 tháng 7” Thiên lịch, mà ngày 25 cùng tháng thì An Khánh thất thủ, Can Vương lúc này viết bài hịch văn kỳ quái đó, không chỉ là nói chuyện viển vông, nhưng bài hịch văn này lại chứng thực một phương diện khác, lời Trung Vương nói Thiên Vương lệnh cho ông ta tảo bắc là sự thực, và việc ông ta nam hạ Giang Tây lại là hành động vi phạm chỉ ý của Thiên Vương. Tất nhiên mục đích của hành động này là chiêu mộ quần chúng khởi nghĩa, còn mục đích hành động lúc này của Thị Vương, Phụ Vương ở Hoản Nam là chiếm đất thu lương, chứ không phải là quán triệt kết hoạch chiến lược tiến đánh Vũ Hán để giải vây cho An Khánh, bởi lúc này cơ bản là không tồn tại kế hoạch như vậy.

Đến đầu năm thứ 11 Tân Dậu, tình hình đã khác. Trung tuần tháng giêng, quân của Anh Vương tiến tới Hồ Bắc, và lệnh cho Niệm quân quấy nhiễu những vùng của Hà Nam như Cố Thủy, Nhữ Dương để phân tán lực lượng của quân Thanh. Cuối tháng giêng, đầu tháng hai, trước sau hạ Hoắc Sơn, Ứng Sơn, đánh thẳng vào Hồ Bắc, ngựa không dừng vó. Gần như cùng lúc đó, Thị Vương đột ngột ngừng đánh Kỳ Môn, chuyển hướng sang Vụ Nguyên, Phù Lương, trấn Cảnh Đức, Lạc Bình, còn Trung Vương cũng đảo ngược sự loanh quanh chậm chạp ban đầu ở Giang Tây, từ trung tuần tháng hai bắt đầu liên tục chia quân bắc thượng, quân tiên phong hướng thẳng về Hồ Bắc.

Kết hợp với các phân tích, báo cáo của các nhà ngoại giao của Thanh đình và phương Tây, cũng như các cuộc trò chuyện giữa Harry Smith Parkes và Anh Vương, cáo dụ ân cần hỏi thăm quân tình của Trung Vương gửi Lại Văn Quang vân vân…, có thể nhìn ra, bắt đầu từ tháng 2 năm thứ 11 Tân Dậu, thực sự có một kế hoạch chiến lược nam bắc cùng tấn công Vũ Hán, “vây Ngụy cứu Triệu”, để lôi kéo quân vây thành An Khánh, tuy nhiên kế hoạch này phải là một ý tưởng chiến lược mới được hình thành sau khi Anh Vương nhiều lần thất bại trong việc trực tiếp giải vây, cuối cùng nó được hình thành và đưa vào thực thi, hoặc là ý của bản thân Anh Vương sau khi tấu rõ với Thiên Kinh, và được Thiên Kinh lệnh cho chư vương chư tướng chấp hành, hoặc là Anh Vương hợp mưu với triều đình sau đó chuyển cáo dụ tới các cánh quân khác. Chúng ta có thể nói rằng kế hoạch này thực sự là kết quả của việc hợp mưu hợp sức của Anh Vương với những nhân vật đứng đầu trong triều bao gồm cả Can Vương, nhưng sự xuất hiện cuối cùng của kế hoạch, lại là vào đầu năm thứ 11 Tân Dậu, sau khi Anh Vương tây tiến được 4, 5 tháng chứ tuyệt đối không phải là vào tháng 7, 8 năm thứ 10 Canh Thân như lời Can Vương.

Trận Nhu Cát : trận chiến khiến cho uy tín của thiên tử nhà Chu
Những dòng họ thế tộc lớn trong lịch sử Trung Quốc
Hàn Tín chết có oan không?

Trong bản cung của mình, Can Vương từng nói rằng tuyến đường hành quân của quân Thái Bình từ Quảng Tây tới Thiên Kinh là một kế hoạch chung của bản thân ông ta và Hồng Tú Toàn tại quê nhà vào năm 1843, và chỉ trích Thiên Vương “Sau khi định đô vào năm Quý Sửu, và thủ Trấn Giang, An Khánh, chưa định phương nam đã vội tảo bắc, dường như là sai nguyên tắc”. Nhưng trên thực tế, Hồng Tú Toàn cho tới tận mùa xuân năm 1847 vẫn không có tư tưởng phản Thanh rõ ràng, bản thân Can Vương thì sau năm 1843 vẫn còn hai lần tham dự kỳ thi khoa cử. Bài viết “Luận về những tư tưởng ban đầu của Hồng Tú Toàn và sự phát triển của nó” của tiên sinh Vương Khánh Thành đã có những nghiên cứu và biện luận rất chi tiết. Hơn nữa, sau khi quân Thái Bình nổi lên cho tới trước khi chiếm được Vũ Xương thì không có được mục tiêu chiến lược rõ ràng, “chú tâm tới Kim Lăng” là sau khi chiếm Vũ Hán vào năm 1852 mới dần trở thành phương hướng tiến quân.

Vì sao Can Vương lại có thể lập được kế hoạch như vậy trước đó những 10 năm? Còn việc chỉ trích miền nam chưa định đã vội tảo bắc, “dường như là sai nguyên tắc” cố nhiên là đúng, nhưng những lời đại ngôn được nhắc đi nhắc lại như “từ đây mà bình định thiên hạ, ba kế thì đã có hai”, “kẻ chí sĩ xu thời, tất là lúc lấy những nước loạn lạc, khinh nhờn những nước nguy vong” trong các tác phẩm “Anh kiệt quy trân”, “Tru yêu hịch văn” được chính Can Vương viết vào những năm Canh Thân, Tân Dậu, sao không thấy những cao kiến mà ông ta cho rằng “dường như là sai nguyên tắc”?. Từ năm 1853 tới năm 1859, ông ta luôn ở Hương Cảng, ở tô giới người phương Tây ở Thượng Hải, lời nói và hành động được tự do, cũng đã viết rất nhiều trước tác cổ súy cho Thiên Quốc, vì sao lại không thấy một chữ nào đề cập lời bình luận “dường như là sai nguyên tắc” này của ông ta?

Còn việc ông ta giật quyết sách đại phá đại doanh Giang Nam lần thứ hai về cho mình, bào chế thơ văn cho Thiên Vương để thần thánh hóa cha con họ Hồng thì người viết đã nói rất kỹ trong những bài viết của mình, ở đây không nhắc lại nữa. Chỉ có một điểm muốn nói rõ, bất luận là từ độ tin cậy từ những lời nói của Thiên Vương, hay là từ những ghi chép cả công khai hay riêng tư trong những năm Canh Thân, Tân Dậu để phân tích phương hướng hành động của các lộ quân Thái Bình, thì vẫn chưa đủ để tin vào cách nói cuộc Tây chinh lần thứ hai vào mùa hè và mùa thu năm thứ 10 Canh Thân là do ông ta khởi xướng và xây dựng, việc Trung Vương chậm trễ trong việc đưa quân vào Giang Tây trong năm thứ 10 Canh Thân cũng tuyệt đối không phải là không muốn chấp hành kế hoạch không tồn tại này, mà là kết quả của việc Thiên Vương lệnh cho ông ta “tảo bắc” và phản ứng tiêu cực của Lý Tú Thành với việc này.

Trên thực tế do sự suy yếu về khả năng tình báo, uy tín và sự kiểm soát đối với các đại thần cầm quân ở bên ngoài trong giai đoạn sau của bản thân trung ương Thiên Kinh cho nên rất nhiều kế hoạch chiến lược được xây dựng như tảo bắc, tiến bắc đánh nam, huy động các lộ binh mã về cứu viện Thiên Kinh, trên những mức độ khác nhau đều tồn tại khuynh hướng bất chấp thực tế, đánh giặc trên giấy, kết quả của nó cũng chỉ có thể là ăn bánh vẽ cho đỡ đói lòng, cấy cày trái vụ, cuối cùng là dứt bỏ đi giang sơn của Thiên Quốc.

(Theo Đào Dũng)

5/5 - (2 votes)

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s

Leave a Comment