Blog Lịch Sử

Nhật Bản Cổ Đại

Nhật Bản cổ đại bắt đầu từ thời kỳ Jomon cho đến Kofun, với nhiều thành tựu và di sản văn minh còn tới ngày nay.

vNhật Bản cổ đại bắt đầu từ thời kỳ Jomon cho đến Kofun, với nhiều thành tựu và di sản văn minh còn tới ngày nay.

Nhật Bản cổ đại có nhiều đóng góp độc đáo cho nền văn hóa thế giới như Thần Đạo (shinto) với những kiến trúc điện thờ đặc trưng, tượng haniwa nghệ thuật, những chiếc bình gốm cổ xưa nhất và các công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Nhật Bản còn nổi tiếng với những tác phẩm văn học kinh điển, trong đó có tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới. Dù chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc và Hàn Quốc, Nhật Bản vẫn duy trì độc lập chính trị, cho phép sàng lọc và phát triển những ý tưởng du nhập theo cách họ muốn, tạo nên một nền văn hóa độc đáo về mặt chính trị, tôn giáo và nghệ thuật.

Thần Đạo (Shinto)

Trong thần thoại Shinto, hòn đảo Nhật Bản do thần Izanami và Izanagi tạo thành bằng cách cắm một một ngọn giáo nạm ngọc xuống biển thời hồng hoang. Họ cũng tạo ra hơn 800 kami, tức thần linh, nổi bật là nữ thần mặt trời Amaterasu. Từ Amaterasu, chúng ta có Ninigi, quốc chủ tiên khởi và là ông cố của Hoàng đế Jimmu – vị hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản. Các hoàng đế Nhật Bản sau này luôn nhấn mạnh đến nguồn gốc thần linh này.

Thời kỳ Jomon

Thời kỳ Jomon, kéo dài từ khoảng 14.500 đến 300 TCN (mốc thời gian này vẫn còn gây tranh cãi), là giai đoạn lịch sử đầu tiên của Nhật Bản. Tên gọi “Jomon” xuất phát từ kiểu đồ gốm đặc trưng sản xuất trong giai đoạn này, được trang trí bằng thứ hoa tiết hình giống dây thừng, gọi là jomon, thứ đồ gốm cổ xưa nhất của nhân loại. Sự xuất hiện của loại đồ gốm này đánh dấu sự chấm dứt Thời đại đồ đá cũ, khoảng 30.000 năm trước, khi con người từ châu Á băng qua các dải đất bắc cầu (nay đã mất) tới các hòn đảo phía bắc và phía nam Nhật Bản. Họ sau đó di cư tới bốn hòn đảo lớn: Hokkaido, Honshu, Shikoku, và Kyushu, rồi tiếp tục tản ra hàng trăm hòn đảo nhỏ hơn. Tuy đã biết làm đồ gốm nhưng người dân thời kỳ này vẫn chủ yếu sống bằng lối săn bắn, hái lượm và sử dụng công cụ bằng gỗ và đá.

Nông nghiệp bắt đầu phát triển tại Nhật Bản khoảng 5000 BCE, với khu định cư cổ nhất là Sannai-Maruyama, niên đại khoảng 3500 BCE kéo dài đến khoảng 2000 BCE. Dân số chủ yếu tập trung ở các khu vực ven biển, ước tính từ 100.000 đến 150.000 người trên toàn quốc. Bằng chứng về gạo xuất hiện khoảng 1250 BCE, nhưng canh tác có hệ thống có lẽ khoảng 800 BCE. Bằng chứng sớm nhất về việc canh tác lúa trong ruộng nước là khoảng năm 600 BCE. Phân tích xương cho thấy người Jomon có vóc dáng khỏe mạnh, mặt vuông, chiều cao trung bình ở nữ khoảng 1,52m và 1,60m ở nam. Các nghiên cứu cho thấy người Jomon là tổ tiên của người Ainu hiện nay.

Tục mai táng phổ biến của người Jomon là chôn trong hố, có khi lót đá, một hoặc nhiều thi thể. Còn có các hình thức chôn cất khác như mộ chum, hoặc mộ tập thể với khoảng 100 bộ hài cốt. Di tích thời kỳ Jomon bao gồm tượng nhỏ hình người làm bằng đất sét và đá, mặt nạ đất sét, dụng cụ đá và trang sức từ đất sét, đá, và ngọc bích. Khảo cổ học cũng chỉ ra rằng người Jomon đã xây dựng các cấu trúc tôn giáo như vòng đá, đường đá hình mũi tên và tảng đá lớn với những tảng đá nhỏ vây quanh.

Thời kỳ Yayoi

Thời kỳ Yayoi kéo dài trong khoảng năm 300 TCN đến 250 TCN. Cũng như thời kỳ trước, các mốc thời gian này còn nhiều tranh cãi, nhất là khi người ta tìm được thêm nhiều di tích hơn. Từ “Yayoi” chỉ một loại đồ gốm màu đỏ được khám phá ở quận Yayoi, Tokyo, cho thấy sự tiến bộ so với đồ gốm thời Jomon. Khoảng từ năm 400 TCN, dòng người di cư từ châu Á lục địa, nhất là bán đảo Triều Tiên, gia tăng, có thể do các xung đột chính trị và quân sự.

Những người di cư này hoặc là định cư, hoặc hòa nhập với người bản địa. Bằng chứng di truyền cho thấy sự pha trộn sắc tộc này. Họ mang theo các kỹ thuật sản xuất đồ gốm, đồng, sắt và các kỹ thuật chế tác kim loại tiên tiến, giúp cải thiện công cụ nông nghiệp và sản xuất vũ khí, áo giáp chất lượng hơn.

Sự cải tiến trong quản lý nông nghiệp cho phép xã hội phát triển với sự chuyên biệt hóa trong nghề nghiệp. Các nghi lễ tôn giáo sử dụng vật phẩm như chuông đồng dotaku xuất hiện, xã hội chia thành các tầng lớp khác nhau theo mức độ giàu có và một tầng lớp thống trị bắt đầu hình thành, điều hành các liên minh giữa các bộ tộc, dẫn đến sự ra đời của các vương quốc nhỏ. Sử sách Trung Quốc cũng ghi chép xung độ giữa các vương quốc Nhật Bản. Khảo cổ học cũng tìm thấy những ngôi làng có tường thành. Ước lượng dân số của Nhật Bản vào cuối thời kỳ này khoảng 4,5 triệu người.

Cuối thời kỳ Yayoi, Nhật Bản bắt đầu có các mối quan hệ quốc tế. Người Wa, từ các quốc gia nhỏ ở miền nam và miền tây Nhật Bản – trong đó quan trọng nhất là Yamato, đã sai sứ mang cống phẩm đến các quận của Trung Quốc tại miền bắc Triều Tiên. Các chuyến đi sứ này được ghi nhận vào các năm 57 và 107. Trong khoảng thời gian này, một quân chủ Nhật Bản đã gửi đoàn sứ thần đến Trung Quốc vào các năm 238, 243 và khoảng 248. Nữ hoàng Himiko, trị vì từ 189-248 CN, là một nhân vật nổi bật của thời đại này. Bà cai trị hơn 100 vương quốc (hoặc có thể chỉ vương quốc mạnh nhất). Nữ hoàng Himiko không lấy chồng, và sống trong một lâu đài với sự phục vụ của 1.000 thị tỳ. Himiko đồng thời cũng kiêm vai trò thượng tế, đứng đầu quốc giáo, như truyền thống đương thời. Sự xuất hiện của một nữ quốc chủ cho thấy xã hội Nhật Bản đương thời rất xem trọng phụ nữ, chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi văn hóa Trung Quốc.

Thời kỳ Kofun

Thời kỳ Kofun, kéo dài từ khoảng 250 đến 538, đặt tên theo những ngôi mộ lớn xây dựng trong giai đoạn này. Người ta cũng gọi đó là Thời kỳ Yamato (khoảng 250-710), nước mạnh nhất đương thời đã sát nhập các nước lận cận bằng con đường ngoại giao, như nước Izumo, hoặc bằng chiến tranh. Mặc dù vị trí cụ thể của Yamato vẫn còn mơ hồ, nhưng phần lớn các nhà sử học tin rằng nó nằm ở vùng Nara.

Từ thế kỷ thứ 4 CN, có một lượng lớn di dân từ bán đảo Triều Tiên đến Nhật Bản, chủ yếu từ vương quốc Baekje và Liên minh Gaya. Một số giả thuyết cho rằng họ là đoàn kỵ binh Triều Tiên đã chinh phạt Nhật Bản. Tuy không có bằng chứng về sự chinh phục hoàn toàn, nhưng người Triều Tiên chắc chắn đã giữ các vị trí quan trọng trong chính quyền Nhật Bản và có thể thậm chí liên quan đến dòng dõi hoàng gia. Bất chấp mối quan hệ chính trị giữa hai nước, rõ ràng có một sự trao đổi văn hóa mạnh mẽ. Các giảng sư, học giả và nghệ sĩ từ Triều Tiên đã mang đến Nhật Bản nhiều yếu tố văn hóa của Trung Quốc, như chữ viết, văn học cổ điển, Phật giáo, và nghệ thuật dệt may, cũng như ảnh hưởng kiến trúc từ Triều Tiên. Yamato cũng sai sứ đến Trung Quốc, bắt đầu từ năm 425, tiếp tục vào năm 478 và 11 lần nữa cho đến năm 502, khẳng định vị thế của mình trên bản đồ ngoại giao quốc tế.

Các ngôi mộ kofun là một phần quan trọng của di sản văn hóa Nhật Bản và bằng chứng cho mối liên hệ qua lại với lục địa châu Á. Trên bán đảo Triều Tiên, người ta cũng xây lăng to mộ lớn cho giới thượng lưu. Tại Nhật Bản, có hơn 20.000 kofun, hình dáng giống lỗ khóa khi nhìn từ trên cao. Những lăng mộ lớn nhất ngang vài trăm mét, có hào bao quanh. Đáng chú ýtrong nhiều kofun có đặt bẫy ngựa, điều chưa từng có trước đó, càng cho thấy sự ảnh hưởng từ lục địa châu Á. Đặc trưng khác của các kofun là haniwa – tượng đất nung tạc hình người, động vật và cả các tòa nhà, được bố trí xung quanh và trên các ngôi mộ, có thể với mục đích bảo vệ.

Lăng mộ Kofun càng về sau càng hoành tráng, chứng minh khả năng điều động nhân lực vật lực của các nhà lãnh đạo Yamato. Họ còn hình thành chế độ trung ương tập quyền bằng cách xây dựng liên minh các gia tộc có uy tín hay uji thông qua nhiều hình thức, như hôn nhân. Điều còn thiếu là một hệ thống chính phủ hiệu quả với một bộ máy quản lý toàn diện mà về sau Trung Quốc sẽ cho họ lời giải.

Đánh giá post

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s