Blog Lịch Sử

Cải cách Minh Trị ở Nhật Bản – Động lực, tiến trình và ý nghĩa lịch sử

Minh Trị có ý nghĩa trọng đại với lịch sử Nhật Bản, gần như quyết định vận mệnh đất nước này trong thời kỳ bành trướng của phương Tây

y nghia cai cach minh tri nhat ban

PGS.TS. Nguyễn Văn Kim

Trích từ sách: Một Số Chuyên Đề Lịch Sử Thế Giới

Trong tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản, thời kỳ Minh Trị (1868- 1912) có một ý nghĩa trọng đại. Vào thời gian đó, ở Nhật Bản đã diễn ra một cuộc cải cách lớn. Cải cách Minh Trị mà các học giả Nhật Bản gọi là “Meiji duy tân” không chỉ làm thay đổi căn bản xã hội Nhật Bản mà còn có những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều quốc gia châu Á. Chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, trước những áp lực mạnh mẽ của phong trào cải cách, chế độ phong kiến đã bị lật đổ. Từ một xã hội nông nghiệp, Nhật Bản đã nhanh chóng đi vào con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành cường quốc tư bản đầu tiên ở châu Á.

Cải cách Minh Trị với vai trò và ý nghĩa lịch sử của nó, đã trở thành nhân tố thiết yếu trong việc thúc đẩy tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản thời kỳ cận và hiện đại. Hơn thế nữa, trên bình diện châu Á, những thành tựu của công cuộc cải cách ở Nhật Bản còn có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự chuyển mình và lựa chọn con đường phát triển của nhiều quốc gia trong thế giới phương Đông.

Những tiền đề kinh tế – xã hội

Cho đến nay, một số nhà nghiên cứu vẫn cho rằng, trước khi Nhật Bản tiến hành công cuộc cải cách, xã hội Nhật Bản về cơ bản cũng ở trong tình trạng như các xã hội phương Đông khác. Nhật Bản cũng nằm trong màn đêm phong kiến bảo thủ, trì trệ tương tự như Trung Quốc, Việt Nam… nhưng nhờ có phong trào cải cách, nhờ có vai trò của một số cá nhân xuất chúng đứng đầu là Thiên hoàng Minh Trị trẻ tuổi có tư tưởng khai sáng và quyết tâm canh tân mạnh mẽ mà lực lượng cải cách đã có thể xóa bỏ gông xiềng của chế độ phong kiến, đưa Nhật Bản lên hàng cường quốc trong khu vực.

Thực ra, cách nhìn nhận dường như trở thành một luận đề “kinh điển” đó ngày càng trở nên thiếu tính thuyết phục. Cơ sở tư liệu và sự giao lưu học thuật hiện nay cho phép chúng ta có được những điều kiện thuận lợi trong việc nhận thức, nghiên cứu một cách đầy đủ và chân thực hơn về lịch sử Nhật Bản nói chung và lịch sử Nhật Bản cận đại nói riêng. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, để hướng tới những nhận thức đầy đủ, sâu sắc về cuộc cải cách Minh Trị không hề là một vấn đề đơn giản vì bản thân sự kiện lịch sử trọng đại đó vốn chứa đựng trong đó nhiều nội dung và tính chất phức tạp trên cả hai phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Cải cách Minh Trị là một cuộc cải cách hết sức đặc thù của mẫu hình châu Á. Bằng cách tiếp cận và tư duy lịch sử chúng ta thấy cuộc cải cách đó đã diễn ra và diễn ra một cách thành công là dựa trên nhiều tiền đề, điều kiện trong nước, quốc tế khác nhau. Trong đó, những tiền đề kinh tế – xã hội của thời kỳ Edo, thời kỳ cuối cùng của chế độ phong kiến Nhật Bản đồng thời là giai đoạn chuẩn bị những cơ sở trực tiếp cho công cuộc cải cách, có một ý nghĩa hết sức quan trọng.

[elementor-template id=”2681″]

Thực tế lịch sử cho thấy, vào thời Edo, do nắm giữ được ưu thế trội vượt về chính trị, kinh tế mà chính quyền Tokugawa đã duy trì được nền hòa bình và ổn định ở Nhật Bản. Môi trường hòa bình và ổn định đó đã tạo những điều kiện xã hội thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển. Sau một thời kỳ mở cửa, đẩy mạnh quan hệ giao thương với bên ngoài, trong thời gian 1635-1639, do những tác động tiêu cực của môi trường kinh tế và chính trị thế giới, chính quyền Edo đã từng bước thực thi chính sách tỏa quốc (sakoka) và chỉ cho phép một số lượng hạn chế tàu, thuyền buôn của 4 nước: Hà Lan, Trung Quốc, Ryukyu và Triều Tiên được tiếp tục đến giao thương với Nhật Bản. Chính sách tỏa quốc của Nhật Bản không phải hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa tiêu cực. Trên thực tế chính sách đó đã không tách biệt Nhật Bản ra khỏi những mối liên hệ và biến đổi chung của thế giới. Sakoku đã góp phần để bảo vệ chủ quyền dân tộc, tôi rèn ý thức dân tộc, khuyến khích nền sản xuất trong nước đồng thời duy trì địa vị thống trị của dòng họ Tokugawa.

Trong những năm cầm quyền, sức mạnh của chính quyền Tokugawa dựa trên nhiều nhân tố nhưng việc duy trì được sự cân bằng quyền lực gồm ba cực: Thiên hoàng Minh Trị – Mạc phủ Kokugawa và các lãnh chúa địa phương là một trong những điều kiện căn bản tạo nên sự thành công cho triều đại này. Tuy nhiên, sau một thời gian dài tập trung sức mạnh chính trị và duy trì được sự cân bằng quyền lực, chính quyền Edo phải đối diện với những mâu thuẫn không thể điều hòa và đứng trước nguy cơ bị phân rã. Những ràng buộc chính trị giữa Mạc phủ Edo với các lãnh chúa địa phương ngày càng trở nên lỏng lẻo và nhiều lãnh chúa đã nổi dậy chống lại chính quyền Trung ương. Do không nắm giữ được sức mạnh kinh tế và duy trì quyền lực chính trị ở Nhật Bản, Mạc phủ đã mất dần đi uy thế chính trị và không còn đủ khả năng duy trì sự lãnh đạo đất nước. Hệ quả là, trước sự đe dọa của các nước phương Tây, sự rối loạn về chính trị trong nước cùng tình trạng suy kiệt về tài chính… chính quyền Tokugawa đã lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc và ngày càng tỏ ra không còn có thể tiếp tục đảm đương trách nhiệm của một thể chế chính trị trung tâm, lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc.

Điều đáng chú ý là, dưới tác động của những biến chuyển mau chóng và sâu sắc của tình hình trong nước, quốc tế mặc dù cũng tự cố gắng điều chỉnh một số chính sách vốn vẫn được coi là nguyên tắc bất biến và trên thực tế cũng đã tiến hành một số cuộc cải biến nhưng Mạc phủ Edo vẫn không thể thoát ra khỏi những định chế cũ và hạn chế lịch sử căn bản của mình. Việc tiếp tục duy trì thiết chế phong kiến truyền thống và ra sức bảo vệ địa vị thống trị cùng những đặc quyền của gia tộc khiến cho chính quyền Edo trở thành một thế lực chính trị bảo thủ, độc đoán(3). Hệ quả là, Mạc phủ Edo trở thành mục tiêu công kích, lên án của toàn thể xã hội. Do vậy, từ chỗ phản đối một số chính sách của chính quyền Edo, các lực lượng chính trị có tư tưởng cấp tiến, đối lập đã từng bước chống lại sự thống trị của Mạc phủ và cuối cùng là đi đến lật đổ chế độ này.

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy một thực tế lịch sử là, vào thời Edo (1600-1868), xã hội Nhật Bản đã sản sinh ra nhiều nhân tố phát triển mới. Trong đó, sự ra đời của các thành thị với vai trò kinh tế, văn hóa nổi bật đã khiến thành thị trở thành những nhân tố rất có ý nghĩa đối với công cuộc cải cách ở Nhật Bản. Trong các thành thị đó, bộ máy quản lý theo kiểu phong kiến hành chính quan liêu ngày càng tỏ ra bất lực trước sự phát triển đa dạng, sôi động của kinh tế đô thị. Vai trò điều hành trên thực tế đã rơi vào tay đẳng cấp thương nhân thông qua các phường hội (za) hay hiệp hội (nakama) buôn bán. Đội ngũ thương nhân – thị dân không chỉ là những nhà buôn giàu có mà đồng thời còn là những người chuyên kinh doanh tiền tệ và là các chủ nợ có thế lực kinh tế lớn. Họ chính là những người định đoạt giá cả và tạo ra mức giá tương đối ngang bằng giữa các vùng. Có thể nói, đẳng cấp thương nhân, trong đó có thương nhân Osaka không chỉ đã đóng vai trò tích cực trong việc giảm thiểu tình trạng độc quyền về kinh tế, tự định đoạt giá cả của các lãnh chúa mà còn phần nào đem lại sự phát triển đồng nhất và bước đầu đặt cơ sở cho sự ra đời của một thị trường kinh tế thống nhất ở Nhật Bản.

Hơn thế nữa, “Trong mỗi thành thị địa phương, với hạt nhân là các thương nhân, đã tạo ra sự kích thích mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế trong nông thôn, khuyến khích việc mở rộng của kinh tế nông nghiệp, thương nghiệp và sản phẩm thủ công nghiệp”. Trong số các thành thị của Nhật Bản thời Edo, Kyoto, Osaka và Nagasaki được coi là những trung tâm kinh tế quan trọng đồng thời là các mô hình thành thị tiêu biểu của Nhật Bản thời kỳ cận đại. Vào đầu thế kỷ XVIII, ở Osaka, Kyoto, Edo ước tính có đến hàng trăm nghìn thợ thủ công và số lượng đó vẫn không ngừng tăng lên vào cuối thời Edo. Đến giữa thế kỷ XIX, tổng dân số Nhật Bản đã lên đến khoảng 30 triệu trong đó có khoảng 20% số dân sống ở thành thị. Điều đáng chú ý là, các thành thị Nhật Bản không chỉ là trung tâm thương mại, địa bàn tiêu thụ hàng hóa mà còn là những công xưởng lớn. Nền sản xuất của thành thị với trình độ tổ chức chặt chẽ và năng lực sản xuất cao đã tạo ra những mặt hàng thủ công đạt đến trình độ tinh xảo nổi tiếng thế giới như: Tơ lụa, luyện kim, đồ gốm sứ, sơn mài… Từ sau năm 1858, sau khi mở cửa buôn bán với Mỹ, tơ lụa và trà đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật Bản. Trong đó, chỉ riêng nguồn thu từ tơ lụa đã đạt giá trị ngang với tổng ngân sách hàng năm và được coi là di sản lớn nhất của thời kỳ Edo để lại cho giai đoạn phát triển sau. Sau khi cải cách Minh Trị diễn ra, chính nhờ nguồn sức lao động phong phú, có kỹ thuật và ý thức kỷ luật cao của môi trường kinh tế đô thị mà Nhật Bản đã có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp nhận các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến phương Tây và bước nhanh vào xã hội công nghiệp hiện đại.

Cùng với những biến chuyển kinh tế, có thể khẳng định rằng, cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản đã diễn ra và diễn ra một cách thành công cũng chính là nhờ có vai trò hết sức quan trọng của những tiền đề về văn hóa và tư tưởng. Văn hóa, tư tưởng không chỉ tạo nên nền tảng căn bản của cuộc cải cách mà còn có ý nghĩa tập trung sức mạnh đất nước, dẫn dắt tiến trình lịch sử dân tộc.

Dựa trên những nền tảng văn hóa truyền thống, dường như tương phản với khung cảnh ảm đạm về chính trị, càng về cuối thời Edo những luồng gió mới của văn hóa thời đại càng tràn mạnh mẽ vào Nhật Bản và đem lại cho đời sống văn hóa Nhật Bản một diện mạo mới. Một số dạng thức biểu hiện và tư tưởng văn hóa mới xuất hiện khiến cho văn hóa Nhật Bản trở nên hết sức phong phú. Môi trường xã hội mới cũng khiến cho giáo dục từng bước thoát ra khỏi những định chế phong kiến và ngày càng trở thành nhu cầu hiểu biết, học tập của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Như vậy, những điều kiện kinh tế, xã hội mới đặc biệt là môi trường văn hóa đô thị đã góp phần thúc đẩy quá trình đại chúng hóa giáo dục ở Nhật Bản, nâng cao trình độ dân trí và tạo ra một năng lực tiếp nhận tri thức mới cho nhiều bộ phận xã hội.

Thời Edo, ở một số trường, ngoài những môn học luân lý và triết luận Nho giáo, học sinh còn được học Toán, Địa lý, Lịch sử và cả một số môn về Khoa học, Kỹ thuật phương Tây, tiếng Anh, tiếng Hà Lan… Vào cuối thời Edo, “Học tập đã trở thành một bộ phận quan trọng trong cuộc sống thường ngày của hầu hết các samurai cũng như đông đảo tầng lớp bình dân. Điều đó có nghĩa rằng, trước khi hệ thống giáo dục hiện đại được thiết lập đã có một số lượng đông đảo những giáo viên kinh nghiệm, biết bao người trẻ tuổi đã có trình độ sơ đẳng biết đọc, biết viết, và rất nhiều gia đình đã quen với cuộc sống cho con đi học”. Kết quả là, khi cải cách Minh Trị diễn ra, trong các tầng lớp bình dân, ước tính có đến 50% nam giới và khoảng 15% nữ giới biết chữ. Theo một số nhà nghiên cứu, tỷ lệ đó là cao nhất trong các nước phương Đông thậm chí còn cao hơn cả nhiều nước châu Âu khi các nước này bước vào thời đại cách mạng công nghiệp.

Như vậy, giáo dục đã góp phần thức tỉnh dân tộc, tôi rèn và khích lệ ý thức dân tộc mạnh mẽ. Nhờ sự phát triển của giáo dục, ở Nhật Bản đã xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng mới thể hiện sinh động khung cảnh của một xã hội đang ở trong thời kỳ chuyển giao giữa bảo thủ, lạc hậu và tân tiến; giữa truyền thống và hiện đại. Một số khuynh hướng tư tưởng, học thuật đó thực sự trở thành những luồng tư tưởng mang ý nghĩa khai sáng như: Quốc học (Kokugaku), Khai quốc học (Kaikoku), Hà Lan học (Rangaku) rồi Tây dương học (Seiyogaku) v.v… Các khuynh hướng tư tưởng đó đã bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng tri thức của Nhật Bản. Do vậy, các khuynh hướng học thuật và tư tưởng mới không chỉ góp phần quan trọng mở rộng tầm nhận thức của dân tộc mà còn phá vỡ xu thế độc tôn của Khổng học, hướng tư duy xã hội đến mô hình phát triển mới và những giá trị tiên tiến của văn minh phương Tây. Điều quan trọng là, hệ thống giáo dục và tư tưởng Nhật Bản đã sớm thoát ra khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, coi trọng thực học, kỹ thuật, công nghệ nhằm mau chóng đưa Nhật Bản trở thành một quốc gia “Phú quốc, cường binh”.

Đọc thêm:
Binh lính La Mã ăn uống như thế nào?
Ba nhân vật lớn của Đế Quốc La Mã Thần Thánh
Nền văn minh Inca
Thương Mại ờ Châu Âu Thời Trung Cổ

Trong sự phát triển chung đó, với tư cách là những lực lượng lãnh đạo phong trào cải cách, sự phát triển tư tưởng hiện đại và phong trào học tập phương Tây trong các lãnh địa tozama (lãnh địa Ngoại dạng) đã diễn ra tương đối sớm và có nhiều ảnh hưởng xã hội sâu sắc. Là những han (phiên) lớn ở miền Tây Nhật Bản, sớm tiếp xúc với văn hóa phương Tây, các lãnh địa như Satsuma, Choshu, Tasa, Hizen… là những địa phương đầu tiên chú trọng phát triển ngành Hà Lan học. Nhiều ấn phẩm của châu Âu đã được dịch sang tiếng Nhật nhờ đó mà những thành tựu khoa học, công nghệ châu Âu đã được truyền bá đến Nhật Bản. Trong điều kiện đóng cửa đất nước, không ít lãnh chúa địa phương cũng đã chọn cử một số trí thức trẻ tuổi đến Edo, Osaka, Nagasaki và ra nước ngoài học tập. Mục tiêu trọng tâm của những trí thức trẻ tuổi đó là sớm nắm bắt các thành tựu khoa học, kỹ thuật phương Tây đặc biệt là các ngành đóng tàu, chế tạo vũ khí, y học, thiên văn học, hàng hải, địa lý, toán học, lịch pháp… và các ngôn ngữ như tiếng Hà Lan, Đức, Pháp. Chính những cơ sở đào tạo, giáo dục Âu học được mở trong các han thời kỳ tiền Minh Trị đã chuẩn bị về mặt tư tưởng và đào luyện nên nhiều nhà tư tưởng, chính trị, quản lý hành chính nổi tiếng cho phong trào cải cách về sau”. Trong trào lưu chung đó ý tưởng về sự kết hợp giữa văn minh phương Tây với phương Đông đã xuất hiện và Sakuma Shozan (1811-1864) một chuyên gia về vũ khí phương Tây là người đầu tiên đưa ra khái luận về sự kết hợp giữa sức mạnh phương Tây và giá trị tinh túy của văn minh Á Đông: “Khoa học phương Tây, tinh thần phương Đông”. Tư tưởng đó đã trở thành khẩu hiệu hành động cho toàn thể dân tộc Nhật Bản. Đến thời hiện đại, khẩu hiệu đó đã được đổi thành “Công nghệ phương Tây và tinh thần Nhật Bản”.

Sau khi Nhật Bản được chứng kiến sức mạnh của phương Tây qua chuyến “viếng thăm” của hạm đội Hoa Kỳ năm 1853 do Đề đốc Matthew C.Perry (1794-1858) dẫn đầu, chính quyền Tokugawa cũng như những người đứng đầu các han đã có nhiều nỗ lực để tăng cường khả năng phòng thủ đất nước. Nhưng bên cạnh đó, Mạc phủ cũng chủ trương đẩy mạnh việc học tập phương Tây. Cụ thể, Mạc phủ cũng đã cho tổ chức lại và đặt ra chương trình đào tạo cụ thể ở trung tâm Khổng học quan trọng hàng đầu Shoheiko, đồng thời cũng tìm mọi cách để nhanh chóng tiếp cận với văn minh phương Tây, đào tạo những người hiểu biết về ngôn ngữ và khoa học phương Tây. Năm 1856, Mạc phủ cho thành lập Bansho shirabesho (Phiên thư điều sở). Năm 1860, được đổi tên là Yosho shirabesho (Dương thư điều sở) và 6 năm sau lại cải tổ thành Kaiseisho (Khai thành sở). Sự thay đổi trên đây không chỉ đơn thuần là việc đổi tên gọi mà chính là vì những chuyển biến hết sức sâu sắc trong nhận thức của chính quyền Edo đối với khoa học, kỹ thuật phương Tây. Từ đó, Kaiseisho đã nhanh chóng trở thành trung tâm nghiên cứu phương Tây của Mạc phủ và đã cuốn hút được nhiều học sinh xuất sắc trên cả nước đến học tập.

Sau những thất bại trong cuộc đụng độ với các chiến hạm phương Tây, nhận thấy chưa thể đủ sức đương đầu với các cường quốc châu Âu, người Nhật đã chọn lựa cho mình một hướng đi phù hợp. Những luận thuyết đề cao tinh thần dân tộc cực đoan và thể hiện sự kỳ thị dân tộc như: “Đất nước của thần linh”, “Loại trừ lũ man di”… đã được thay thế bằng những hành động và quyết tâm mở cửa tích cực, nhanh chóng nắm bắt những mô hình phát triển tiên tiến cũng như những thành tựu của khoa học, kỹ thuật phương Tây nhằm đưa Nhật Bản mau chóng hòa nhập với sự phát triển chung của nhân loại.

Đến giữa thế kỷ XIX, trước áp lực của nhiều nước phương Tây, Mạc phủ Edo đã phải ký các “Hiệp ước bất bình đẳng”, mở cửa cho các nước vào Nhật Bản. Trong điều kiện phải đối chọi với những tình thế hết sức khó khăn đó nền tảng tri thức và tư tưởng Nhật Bản đã được phát huy và trở thành một lực lượng vật chất to lớn. Những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng không chỉ được thể hiện bằng việc tìm ra những bước đi phù hợp cho dân tộc trong từng giai đoạn cải cách mà còn tập hợp được sức mạnh dân tộc, góp phần khắc phục những hạn chế lịch sử để rồi chỉ sau vài thập kỉ, với quyết tâm của mình Nhật Bản đã vươn lên trở thành cường quốc ở khu vực, đủ sức “đối thoại” với các nước đế quốc phương Tây.

Nhật Bản mở cửa và các trào lưu xã hội

Đến giữa thế kỷ XIX, sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào thế giới phương Đông ngày càng trở nên mạnh mẽ. Là một trung tâm kinh tế lớn của châu Á, Trung Quốc trở thành mục tiêu trọng tâm của các nước phương Tây. Sự thất bại của nhà Thanh, một đế chế lớn nhất châu Á, trong cuộc “Chiến tranh thuốc phiện” lần thứ nhất (1840-1842) đã được các thương nhân Hà Lan và Trung Hoa truyền đến đảo quốc. Sự thất bại đó đã làm sụp đổ uy lực của nhà Thanh và gây nên một chấn động lớn đến chính thể phong kiến và xã hội Nhật Bản. Mặc dù chính quyền Edo vẫn chủ trương tăng cường phong tỏa bờ biển nhưng từ ngày 24-7-1842, sau khi được phía Hà Lan thông báo rằng, sau “Chiến tranh thuốc phiện”, Anh sẽ cử tàu chiến đến Nhật Bản, chính quyền Edo đã bãi bỏ “Lệnh đánh đuổi tàu thuyền ngoại quốc” (Ikokusen Uchiharai rei, Dị quốc thuyền đá phát lệnh) và ban hành “Lệnh cung cấp nước” (Shinsui kyu yo rei, Tân thủy cấp dự lệnh). Từ đó, Mạc phủ Tokugawa cho phép chính quyền các cảng cung cấp than, củi, nước ngọt, thực phẩm cho tàu thuyền ngoại quốc khi họ đến Nhật Bản. Chính sách tỏa quốc truyền thống bắt đầu được nới lỏng. Trong khi đó, sự thâm nhập của các đoàn tàu nước ngoài vào vùng biển Ryukyu, Nagasaki, Hakodate, Shimoda… trở nên thường xuyên hơn. Một số lãnh chúa cũng tỏ ra không sẵn sàng chống lại các đoàn tàu phương Tây khi chúng cố tình xâm phạm vào vùng biển Nhật Bản. Mặc dù ra sức thực hiện các biện pháp tăng cường an ninh nhưng chính quyền Edo ngày càng tỏ ra không thể giành quyền chủ động trong toàn bộ các quan hệ đối ngoại.

Năm 1853, Đề đốc Matthew Calbraith Perry (1794-1858) đã tạo ra một bước ngoặt mới trong quan hệ Nhật – Mỹ. Vào lúc 17 giờ ngày 15-7-1853, sự xuất hiện bất ngờ của đồng thời 4 chiến hạm đen chạy bằng hơi nước được trang bị dàn đại bác lớn đã khiến cho dân chúng Edo vô cùng lo sợ. Thành Edo bị đặt trong tầm trọng pháo từ các chiến hạm của Mỹ. Người ta tin rằng một cuộc chiến tranh tàn khốc với phương Tây chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng trái với tinh thần hoảng loạn của đại đa số dân chúng, chính quyền Edo vẫn quyết tâm thực hiện chính sách tỏa quốc và yêu cầu đoàn tàu Mỹ phải rời đến Nagasaki, cảng quốc tế duy nhất mà các tàu ngoại quốc có thể cập bến.

Trước áp lực bất ngờ của phái bộ Mỹ, Mạc phủ không thể đưa ra giải pháp đối phó hữu hiệu. Để xoa dịu tình hình và cũng nhằm kéo dài thời gian tìm biện pháp đối phó, chính quyền Edo đã phải từ bỏ nguyên tắc truyền thống, cử đại diện nhận quốc thư của Mỹ và hẹn một năm sau trả lời qua đại diện của Hà Lan ở Nagasaki. Bức thư của Tổng thống Mỹ Millard Fillmore (1800-1874) gửi chính quyền Nhật Bản có ba yêu cầu cơ bản: 1. Mở cửa đất nước để giao lưu thương mại và thiết lập quan hệ hữu nghị giữa hai nước. 2. Cứu trợ và chữa trị nhân đạo đối với các thủy thủ Mỹ bị đắm tàu hay gặp nạn ở vùng biển Nhật Bản. Và, 3. Cho phép Mỹ được mở một trạm tiếp nhiên liệu cho các đoàn tàu qua lại định kỳ giữa California và Trung Quốc.

Sức ép chính trị đó đã buộc Mạc phủ Edo đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nhưng, trong khi chưa thể tìm ra một giải pháp chính trị thỏa đáng, chính quyền Edo đã đi đến một quyết định chưa từng thấy trong suốt 253 năm cầm quyền là ra lệnh cho quan Roju (Lão trung, giữ cương vị như Tể tướng) là Abe Masahiro (1819-1857) sao bức thư của tổng thống Mỹ rồi gửi cho Thiên hoàng cùng tất cả các lãnh chúa. Mạc phủ yêu cầu người nhận thư sớm cho biết quan điểm cụ thể của mình. Quyết định đó đã làm thay đổi cục diện chính trị ở Nhật Bản. Như vậy, chính quyền Edo không thể tự mình quyết định mọi vấn đề trọng đại của đất nước được nữa. Hành động đó cũng đã gián tiếp đề cao vị thế của hoàng triều và nhiều lãnh chúa có thế lực.

Trong khi chính quyền Edo còn chưa đưa ra một quyết định cụ thể và cuộc tranh biện giữa các quan điểm cũng chưa thể đi đến một sự lựa chọn giải pháp tối ưu nào thì ngày 13-1-1854, chiến hạm của Mỹ do Matthew C.Perry bao gồm 9 chiếc tàu cùng 1.800 quân trong tư thế sẵn sàng chiến đấu lại xuất hiện ở vịnh Uraga, cửa ngõ phía Đông thành Edo. Không còn sự lựa chọn nào khác, để tránh một cuộc chiến tranh đẫm máu có thể xảy ra, chính quyền Edo đã phải gặp đại diện của chính phủ Mỹ tại Kanagawa (Yokohama), một cảng thị phía nam Edo. Sau nhiều vòng đàm phán, trước áp lực liên tục của phía Mỹ, ngày 31-3-1854, Nhật Bản đã phải nhượng bộ và ký “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” với Mỹ. Do được ký tại Kanagawa nên bản hiệp ước còn được gọi là “Hiệp ước Kanagawa”. Bản hiệp ước đã chấm dứt 215 năm theo đuổi chính sách đóng cửa của chính quyền Edo. Nhìn lại toàn bộ diễn biến chính trị ở Nhật Bản thời gian đó, ta có thể thấy quyết định mở cửa với phương Tây của chính quyền Edo là một cố gắng cuối cùng nhằm tiếp tục giữ thế chủ động về ngoại giao. Tuy nhiên, sự nhân nhượng đó của chính quyền phong kiến đã đẩy đời sống chính trị, xã hội ở Nhật Bản vào một tình trạng vô cùng phức tạp. Các khuynh hướng chính trị phân hóa rõ rệt và vận động với tốc độ hết sức nhanh chóng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Mạc phủ. Rõ ràng là, “Việc ký các bản hiệp ước đã đưa Nhật Bản đến cuộc khủng hoảng… nhưng Nhật Bản không còn sự lựa chọn nào khác bởi vì nó chưa đủ mạnh để chống lại phương Tây”.(10)

Việc chính quyền Edo tự ý ký hiệp ước “mở cửa” với Mỹ đã như một làn sóng lan nhanh khắp Nhật Bản. Ngay lập tức khẩu hiện Sono-joi (Tôn vương, nhượng di) đã xuất hiện. Trên thực tế, khẩu hiệu đó còn là để chống lại Mạc phủ đã “hèn nhát”, “bán nước cho ngoại bang”. Trung tâm của phong trào này là các chí sĩ yêu nước ở các han Satsuma, Choshu. Về sau có thêm sự tham gia của các han như Mito, một trong ba lãnh địa có quan hệ mật thiết nhất của Mạc phủ Edo, và Tosa, Hizen… Phong trào này một mặt gây áp lực với Mạc phủ mặt khác vận động triều đình ra sắc lệnh yêu cầu Mạc phủ thi hành chính sách chống phương Tây. Song song với phong trào trên, ở nhiều han đã diễn ra những vụ bạo động tấn công người nước ngoài. Đến giữa thế kỷ XIX, xã hội Nhật Bản đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện cả về cả kinh tế lẫn chính trị. Là đẳng cấp bên trên, giữ vai trò thống trị xã hội, một bộ phận trong đẳng cấp võ sĩ nhận thức sâu sắc về sự tồn vong của dân tộc và cảm thấy danh dự của đất nước, của đẳng cấp bị xúc phạm. Là những người đồng thời mang cả hai nhân cách văn – võ, có lý trí và tư duy thực tiễn, trước những thách thức của lịch sử các võ sĩ cấp tiến đã vươn lên nắm giữ ngọn cờ dân tộc.

Nhìn lại toàn bộ tiến trình cải cách Minh Trị ở Nhật Bản, rõ ràng là một bộ phận trong đẳng cấp võ sĩ đã luôn nắm giữ vai trò quyết định và trở thành lực lượng tiên phong trong các ngọn trào dân tộc. Nhưng như đã trình bày ở trên, samurai không phải là một đẳng cấp thuần nhất. Khi nghiên cứu vai trò tiên phong của đẳng cấp này không ít người cho rằng những thành tựu của cuộc cải cách gắn liền với sự đóng góp của tầng lớp võ sĩ bên dưới, những người có địa vị kinh tế, xã hội thấp nhất và vì vậy họ cũng là những người giàu nhiệt huyết nhất đối với phong trào. Nhưng mặt khác, thực tế lịch sử cũng cho thấy chính những võ sĩ cao cấp hay lãnh chúa đã sớm nhận thức rõ những mối hiểm nguy đe dọa sự tồn vong của dân tộc Nhật Bản. Sau khi Mạc phủ phải ký Điều ước Kanagawa, Nariakira lãnh chúa Satsuma, một trong bốn lãnh địa đi đầu trong phong trào cải cách đã xác định rõ: “Giờ đây, việc chống lại bọn man rợ ngoại bang trở thành một vấn đề cực kỳ quan trọng, đó là nhiệm vụ khẩn cấp của tất cả các samurai dù có địa vị cao hay thấp phải đoàn kết lại để học tập nước ngoài qua đó chúng ta có thể bổ sung những điểm non kém của mình, tăng cường khả năng quốc phòng và khống chế các nước trong sự kiểm soát của chúng ta”.

Quan điểm đó thể hiện khuynh hướng chủ đạo trong giới võ sĩ cấp tiến ở Nhật Bản. Là những lãnh địa đi đầu trong phong trào cải cách, mẫn cảm với thời thế nên trước những diễn biến chính trị ở Satsuma, Choshu, Tosa và Hizen, giới võ sĩ cấp tiến luôn có những mục tiêu cụ thể qua từng giai đoạn của phong trào cải cách. Thêm vào đó, phong trào cải cách của nhiều han luôn chịu sự tác động của phong trào chung cũng như cuộc tranh giành ảnh hưởng chính trị giữa Choshu với Satsuma dưới danh nghĩa ủng hộ Thiên hoàng. Tại Choshu, lực lượng tham gia cải cách gồm trí thức, viên chức chính quyền và dân binh tình nguyện. Tuy có sự liên hệ mật thiết với nhau nhưng trong từng thời kỳ vai trò của mỗi lực lượng cũng có sự thay đổi. Tuy vậy, do tư tưởng Sono-joi (Tôn vương nhượng di) đã được khởi xướng theo quan điểm của Yoshida Shoin (1830-1859), nên có thể coi phong trào cải cách ở Choshu trước hết là phong trào của giới trí thức võ sĩ. Sau một thời kỳ khởi dựng ban đầu, từ chỗ đối đầu về quân sự, Chosu và Satsuma đã hợp nhất và trở thành một liên minh chính trị mạnh. Hai lãnh địa này về sau đã trở thành chỗ dựa căn bản của Hoàng gia. Dưới sự lãnh đạo của giới trí thức võ sĩ, phong trào cải cách ngày càng quy tụ được nhiều lực lượng xã hội. Điều quan trọng là từ những phong trào mang tính chất địa phương, cuộc cải cách ở Nhật Bản đã mau chóng phát triển thành một phong trào dân tộc mang một nội dung và tính chất mới.

Trong những năm 1860-1863, ẩn sau phong trào thỏa hiệp là sự phát triển của trào lưu chống phương Tây. Là những nhà cải cách cấp tiến, lực lượng chính trị ở Choshu đã tự đứng về phe bài ngoại. Tại Tosa, những võ sĩ cấp tiến đã nổi dậy và trở thành võ sĩ vô chủ. Vào thời điểm đó, chính sách hòa hoãn với phương Tây đã khiến Mạc phủ trở nên bị cô lập với hầu hết các han và tất cả các han đã hướng về Kyoto thông qua những liên hệ trực tiếp với những nhà cải cách ở Choshu, Satsuma, Hizen hay Tosa(13). Tháng 6 năm 1866, Mạc phủ lại cử quân đi “trừng phạt” Choshu lần thứ hai. Dưới sự chỉ huy của danh tướng Omura Yasujiro, lại được trang bị vũ khí hiện đại của Hà Lan và được động viên tinh thần rất cao, quân đội Choshu đã chiến đấu hết sức dũng cảm, chặn đứng được quân Mạc phủ. “Sự thất bại của bakufu trước quân đội của chỉ riêng một han báo hiệu ngày cuối cùng của chế độ bakufu không còn xa nữa”. Vì thế, từ năm 1865, khẩu hiệu Sono-joi đã được thay thế bằng khẩu hiệu Tobaku (Lật đổ Mạc phủ).

Như vậy, những khó khăn về kinh tế và chính trị đã đẩy cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến Tokugawa thêm sâu sắc. Do không có đủ khả năng tài chính cũng như uy lực chính trị mà vai trò điều hành đất nước của Mạc phủ Edo, với tư cách là chính quyền Trung ương, đối với các địa phương đã không còn hữu hiệu như trước. Sự phụ thuộc của giới chính trị cầm quyền với các ngành kinh tế phi nông nghiệp ngày một nặng nề. Nền tảng của chế độ phong kiến đã bị lung lay đến tận gốc rễ. Cơ cấu và quan hệ xã hội bị đảo lộn. Cơ sở kinh tế của đẳng cấp võ sĩ đứng trước nguy cơ sụp đổ. Từ chỗ là đẳng cấp trung thành nhất, xương sống của chế độ phong kiến, một bộ phận trong giới võ sĩ đã giương cao ngọn cờ cải cách và là lực lượng xã hội ưu tú đưa phong trào đi đến thành công.

Trong quá trình cải cách, các võ sĩ bên dưới, dựa vào áp lực của số đông, đã đấu tranh với những tầng lớp bên trên để tranh giành quyền lực. Nhưng cuộc đấu tranh đó cũng có thể diễn ra trong chính một bộ phận samurai nhất định. Vì thế, trước khi cải cách diễn ra, nhiều tầng lớp võ sĩ, với tư cách là đẳng cấp lãnh đạo xã hội, đã có sự phân hóa và chịu sự chi phối của nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau. Nhưng những quan điểm, tư tưởng chung về sự thống nhất hành động để bảo vệ chủ quyền dân tộc đã khiến cho giới võ sĩ, mặc dù có sự khác biệt về lợi ích kinh tế, nguồn gốc xuất thân, đã tự tập hợp lại thành các lực lượng xã hội rộng lớn. Các lực lượng xã hội đồng thời cũng là lực lượng chính trị đó đã phá vỡ sự cân bằng quyền lực chính trị vốn có ở Nhật Bản và thúc đẩy tiến trình cải cách diễn ra với tốc độ nhanh chóng ở Nhật Bản.

Sự thiết lập chính quyền Minh Trị và một số cải cách trọng yếu

Sau khi phong trào cải cách diễn ra, với tư cách là những người đứng trên ngọn trào của phong trào dân tộc, bộ phận lãnh đạo trí thức võ sĩ trẻ tuổi mà phần lớn xuất thân từ các lãnh địa lớn ở miền Tây Nhật Bản đã nhanh chóng xác định mục tiêu và bắt tay vào việc xây dựng một xã hội mới. Những người lãnh đạo phong trào như: Ito Hirobumi, Inoue Kaoru, Shibusawa Eiichi, Okubo Toshimichi, Kido Koin… trước khi trở thành thủ lĩnh chính trị đều là những trí thức từng du học tại châu Âu hay đã nghiên cứu khá thấu triệt về xã hội phương Tây. Do đó, mô hình nhà nước mà họ hướng tới là thiết chế chính trị dân chủ tư sản mặc dù giữa các nhà cải cách vẫn luôn có sự bất đồng trong sự lựa chọn mô hình của các nhà nước Đức, Anh, Pháp hay Mỹ.

Thực ra, từ năm 1866, tướng quân thứ 15 của triều đại Tokugawa là Tokugawa Yoshinobu (1837-1913, tại vị từ 1866-1867) sau khi lên nắm quyền đã tiến hành cải cách thể chế Mạc phiên với sự cố vấn của công sứ Pháp là Leon Roches (1801-1901), nhằm tái thiết lại thể chế chính trị Nhật Bản với phương châm cải cách từ trên xuống. Tháng 12 năm 1867, Thiên hoàng Komei đột ngột qua đời, Thiên hoàng Minh Trị (1852-1912, tại vị từ 1867-1912) lên kế vị. Khác với cha, Thiên hoàng Minh Trị do được các quý tộc và một số thành viên phái Sono-joi nuôi dưỡng nên đã sớm có tư tưởng cải cách. Ông cũng là người chủ trương phải lật đổ Mạc phủ. Kết quả là ông đã ban sắc chỉ đồng ý cho hai han là Choshu và Satsuma tấn công Edo. Trước nguy cơ nội chiến, Goto Shojiro (1838-1897) và Sakamoto thông qua lãnh chúa Tosa là Yamanouchi Toyoshige khuyên Tokugawa Yoshinobu nên trao trả lại quyền lực chính trị cho Thiên hoàng. Chấp nhận lời khuyên này, ngày 14-10-1867, tại Kyoto, Tokugawa Yoshinobu đã quyết định trao trả quyền lực cho triều đình Kyoto. Đây là sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại, chấm dứt gần bảy thế kỷ thâu tóm sức mạnh chính trị của ba triều đại Mạc phủ trong lịch sử Nhật Bản. Như vậy, khác với các cuộc cải cách đã từng diễn ra trong lịch sử, phong trào cải cách ở Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đã mang những nội dung, mục tiêu và tính chất mới.

Ngày 14-10 năm Keio (Khánh ứng) thứ 3 (1867), chính quyền Tokugawa đã quyết định trao trả lại quyền lực cho Thiên hoàng. Lịch sử gọi đây là lệnh “Đại chính bổng hoàn” (Taiseihokan). Ngày 19-12-1867, lệnh “Vương chính phục cổ” (Oseifukko) được ban bố. Đây được coi như một bản tuyên bố cho sự ra đời của một chính thể mới đồng thời chấm dứt 267 năm tồn tại của chính quyền Tokugawa. Chính quyền Minh Trị chính thức được thiết lập. Ngày 6-4-1868, Thiên hoàng Minh Trị tuyên bố “Ngũ điều ngự thệ văn” (Gokaijo no goseimon) thể hiện đường lối căn bản của chính quyền mới và quyết tâm tiếp nhận văn minh phương Tây để canh tân Nhật Bản. Bên cạnh đó, chính quyền mới cũng thể hiện ý nguyện xây dựng một xã hội dựa trên nền tảng của thể chế pháp quyền, tôn trọng quyền tự do của nhân dân. Cụ thể, chính quyền mới chủ trương:

  1. Nghị hội phải được mở rộng rãi và quốc sự phải do công luận quyết định;
  2. Trên dưới phải đồng lòng cùng nhau lo việc kinh tế, tài chính;
  3. Trong chính thể mới, để không còn sự bất mãn, không chỉ giới quan chức mà cả thường dân cũng được phép theo đuổi chí nguyện của mình;
  4. Những tập tục xấu xa của quá khứ phải phá bỏ và mọi việc phải dựa trên công pháp;
  5. Phải thu thập tri thức trên toàn thế giới để mở mang và chấn hưng nền tảng của Hoàng triều.(15)

Có thể coi đây là một cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước theo mô hình phương Tây. Trong đó, điều 5 khẳng định mạnh mẽ rằng Nhật Bản cần phải học hỏi tri thức thế giới để xây dựng đất nước. Ngày 11-4-1868, chính phủ công bố “Chính thể thư” (Seitaisho). Trong đó nêu rõ việc Nhật Bản sẽ thực hiện Chế độ tam quyền phân lập tức là thực hiện một thể chế dân chủ như mô hình phương Tây.

Nhằm ổn định thế cục và có đủ sức mạnh chống lại phương Tây, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp canh tân đất nước, mục tiêu trọng tâm của chính quyền mới là phải sớm xóa bỏ chế độ cát cứ và xây dựng chính quyền trung ương tập quyền do Thiên hoàng đứng đầu. Địa vị chính trị của Thiên hoàng được đề cao và vị thế thiêng liêng của Hoàng gia được coi là trung tâm hội tụ sức mạnh, ý chí dân tộc. Với mục đích đó, chính quyền Minh Trị đã tập trung tất cả mọi nỗ lực nhằm thực hiện bằng được khẩu hiệu “Phú quốc cường binh” (Fukoku kyohei) mà chính phủ đã đề ra ngay sau khi được thành lập. Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, chính quyền Minh Trị cũng nhận thấy cần phải thực hiện kiên quyết và triệt để hơn nữa các biện pháp cải cách mà trước hết là tập trung vào hai nhiệm vụ căn bản: Thứ nhất, triệt bỏ những định chế lạc hậu của thể chế phong kiến, cản trở sự phát triển của đất nước. Thứ hai, tạo dựng những cơ chế thích ứng để thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, mau chóng hiện đại hóa đất nước.

Chính quyền mới đã khôi phục lại quyền lực của Thái chính quan (Daijokan). Ban đầu Daijokan được chia làm ba viện: Shoin (Chính viện), Sain (Tả viện) và Uin (Hữu viện). Về sau, chế độ tam viện còn được cải cách nhiều lần vào các năm 1871, 1873, 1875, 1877 và nó được duy trì cho đến năm 1885 khi chính quyền Minh Trị thực thi chế độ nội các. Chính viện là cơ quan quyền lực tối cao, Tả viện là cơ quan tư vấn lập pháp, Hữu viện là cơ quan quản lý các bộ. Đứng đầu các cơ quan này là viên Thái chính đại thần (Daijo daijin), Tả đại thần (Sadaijin) và Hữu đại thần (Udaijin), các Sagi (Tham nghị) và đứng đầu các sho (tức các tỉnh, bộ) là Kyo (Khanh, tức Bộ trưởng) và Taifu (Đại phụ, tức các Thứ trưởng). Theo truyền thống, những cương vị này đều do các kuge (quý tộc) nắm giữ. Cùng với tam viện, chính quyền mới còn thiết lập sáu bộ là: Bộ Dân vụ, Bộ Quốc phòng. Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Hoàng cung, Bộ Ngoại giao. Trong chính quyền mới, ngoại trừ Sanjo Sanetomi, Iwakura Tomomi có nguồn gốc quý tộc còn những chức vụ chủ chốt đều do những người thuộc đẳng cấp võ sĩ xuất thân từ các han như Satsuma, Choshu, Tosa và Hizen đảm nhiệm.

Để khẳng định quyền sở hữu ruộng đất, tập trung sức mạnh kinh tế và quyền lực chính trị của mình, chính quyền Minh Trị đã chủ trương thực hiện “Bản tịch bổng hoàn” (Hansekihokan), nghĩa là các daimyo phải trao trả lại cho Thiên hoàng lãnh địa và thần dân trên lãnh địa đó. Đây vốn là một vấn đề căn bản của xã hội phương Đông. Thực ra, trong bối cảnh chính trị mới, một số lãnh chúa cũng đã nhận ra khuynh hướng tiến bộ của phong trào cải cách và đã chủ động đề xuất trao trả lại đất đai và quyền lực cho Thiên hoàng. Tháng giêng năm Minh Trị thứ hai (1869), các daimyo của bốn han là: Satsuma, Choshu, Tosa và Hizen đã lần lượt tự nguyện trao trả lại lãnh địa cho Thiên hoàng. Tháng 6 cùng năm, chính phủ đã hạ lệnh cho tất cả các han phải khẩn trương trao trả lại lãnh địa. Để xóa bỏ chế độ phân quyền và tiến thêm một bước trong việc xây dựng chế độ trung ương tập quyền, ngày 14-7-1871, chính phủ Minh Trị đã ban hành chiếu cải cách Haihanchiken no mikotonori (Phế phiên lập huyện chiếu). Đồng thời, chính phủ cũng bãi miễn các Chihanji, triệu tập tất cả về kinh và phái cử các quan lại mới làm Kenchiji (Huyện tri sự). Ban đầu Nhật Bản được chia làm 300 phủ huyện, nhưng đến tháng 11 cùng năm được sáp nhập lại thành 3 phủ, 72 huyện. Có thể coi đây là một bước ngoặt trong việc cải cách thể chế chính trị ở Nhật Bản. Trên thực tế, “Sự kiện này đã đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn vai trò của các daimyo với tư cách là những lãnh chúa phong kiến”.

Do xác định mục tiêu “Lực lượng quân sự là cần thiết để phòng vệ đất nước và bảo vệ nhân dân”(18). Năm 1872, chính phủ đã tập hợp về Tokyo một vạn quân chủ yếu từ 3 han Satsuma, Choshu và Tosa để xây dựng thành một đội quân chính quy trực thuộc gọi là Goshinbei (Ngự thân binh). Tháng 3 năm Minh Trị thứ 5 (1872), Goshinbei được đổi tên thành Konoehei (Cận vệ binh). Chính phủ cũng lập các trường lục quân, hải quân vào tháng 11-1870, xây dựng các pháo đài phòng thủ ven biển. Tháng 2 năm 1872, Nhật Bản thành lập thêm Bộ Hải quân. Đến tháng 1-1873, lệnh trưng binh Chohei vei (Trưng binh lệnh) được ban bố. Theo lệnh này tất cả nam thanh niên từ 20 tuổi, không phân biệt nguồn gốc, địa vị xuất thân đều phải có trách nhiệm tham gia quân đội. Mục đích của việc thực hiện chế độ này và hiện đại hóa quân đội theo mô hình châu Âu nhằm mau chóng xây dựng một đội quân thường trực mạnh có thể bảo vệ nền độc lập trước sự đe dọa của phương Tây.

Bằng việc thực thi một loạt các chính sách trên, chế độ Mạc – phiên (Bankuhan) trước đây đã bị xóa bỏ. Về cơ bản, chính phủ Minh Trị đã thiết lập được thể chế chính trị trung ương tập quyền. Song song với quá trình đó, những cải cách nhằm loại bỏ tàn dư của chế độ phong kiến cũng được tiến hành. Chính phủ cũng bãi bỏ chế độ đẳng cấp tồn tại từ thời Edo bằng lệnh shiminbyodo (tứ dân bình đẳng). Bốn đẳng cấp sĩ, nông, công, thương bị bãi bỏ và dân chúng được chia làm ba hạng. Tầng lớp có thân phận cao như daimyo, kuge trước đây được gọi là kazoku (hoa tộc), võ sĩ được gọi là shizoku (sĩ tộc), còn tầng lớp có thân phận thấp kém thì gọi là heimin (bình dân). Chính quyền mới cho phép heimin được mang họ, công nhận quyền kết hôn với tầng lớp khác có địa vị xã hội cao hơn. Đó là những quyền mà vào thời phong kiến, giới bình dân không thể có. Ngoài ra, họ cũng có quyền tự do chuyển đổi chỗ ở, lựa chọn nghề nghiệp…

Để khẳng định những nguyên tắc của một nhà nước mới, chính quyền Minh Trị đã tập trung sức lực vào việc xây dựng chính thể và biên soạn hiến pháp. Dựa trên cơ sở ban đầu là việc thiết lập một chính thể mới của một nền chính trị công minh chính đại lấy nhân nghĩa làm cốt lõi. Mục tiêu chính trị hàm chứa giá trị nhân bản đó không phụ thuộc vào cá nhân người đứng đầu thể chế mà phải được quy định bởi chính thể. Theo ông, chính thể thích hợp nhất cho Nhật Bản là lập hiến đặc biệt là chế độ đại nghị. Sau một quá trình vận động, đấu tranh và tham khảo nhiều bản hiến pháp phương Tây, ngày 12-2-1889 bản “Đại Nhật Bản đế quốc hiến pháp” (Dai Nihon Teikoku Kenpo) được chính thức ban hành. Đây là văn bản quan trọng trong thể chế chính trị của nhà nước mới. Theo tinh thần của hiến pháp, vị thế thiêng liêng và quyền lực của Thiên hoàng được khẳng định. Thiên hoàng là người duy nhất có thể đưa ra những quyết định trọng yếu của đất nước như tuyên chiến, giảng hòa hay ký kết các hiệp ước. Các bộ trưởng trong nội các chịu trách nhiệm và tuân thủ mệnh lệnh trực tiếp từ Thiên hoàng. Bộ trưởng Lục quân và Hải quân cũng chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Thiên hoàng mà không cần phải tham vấn ý kiến hay thông qua nội các.

Như vậy, “Hiến pháp Minh Trị” là bản hiến pháp đầu tiên ban hành ở châu Á. Nội dung và tinh thần của hiến pháp là ví dụ điển hình của quan điểm xây dựng một mô hình nhà nước hiện đại theo kiểu phương Tây nhưng vẫn kết hợp, duy trì những yếu tố truyền thống. Vị thế của Thiên hoàng với tư cách là người đứng đầu đất nước được đề cao. Tuy nhiên, trên thực tế các thế lực xuất thân từ lãnh địa như Satsuma, Choshu… vẫn có nhiều ảnh hưởng và nắm quyền chi phối đời sống chính trị Nhật Bản. Các thế lực này chính là người đề xướng và kiến nghị với Thiên hoàng những chủ trương lớn và quyết định quan trọng của đất nước.

Để mở rộng quyền dân chủ, chính quyền Minh Trị chủ trương thành lập Nghị viện. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho rằng vì trình độ dân trí chưa cao, chưa được mở mang bao nhiêu nên việc lập Nghị viện rồi giao cho họ đảm nhiệm công việc soạn thảo luật pháp hay hiến pháp là điều không thể thậm chí là nguy hiểm. Với Nhật Bản, chính thể Cộng hòa (Republicanism) sẽ là chính thể tối ưu, nhưng trước mắt, do điều kiện thực tế chưa phù hợp nên chính thể Quân chủ lập hiến (Constitutional monarchy) rồi đến một giai đoạn nào đó sẽ thiết lập chính thể cộng hòa. Quan điểm trên của Kato đã bị một số học giả khác như Fukuzawa phản đối. Theo ông, ngay cả ở phương Tây thì giới thức giả cũng chỉ xuất thân từ tầng lớp trung lưu và thượng lưu mà thôi. Thêm vào đó, chính phủ Minh Trị không thể là một chính quyền chuyên chế, phải kiên quyết từ bỏ lối tư duy cũ thiết lập định chế mới trong đó chính phủ phải san sẻ quốc quyền với dân chúng và phải sớm thành lập Nghị viện. Cuối cùng, nghị viện Nhật Bản gồm hai viện đã được thành lập. Trong đó, Quý tộc viện (Kizokuin như Thượng viện) do Thiên hoàng chỉ định và Chúng Nghị viện (Shugiin, Hạ viện) do một bộ phận dân chúng bầu. Tuy vậy, quyền lực của nhân dân còn rất hạn chế. Trong cuộc bầu cử đầu tiên vào tháng 7-1890, chỉ có nam giới từ 25 tuổi trở lên và đóng thuế trên 15 yên mới có quyền đi bầu cử. Với những điều kiện đó, chỉ có 1,24% dân số toàn quốc được quyền bỏ phiếu. Thiên hoàng có quyền đình chỉ hoạt động của Nghị viện, giải tán và triệu tập Hạ viện. Trong trường hợp đặc biệt, Thiên hoàng có quyền ban hành những chiếu lệnh thay thế sắc luật. Ngoài ra, Thiên hoàng cũng có quyền điều chỉnh hiến pháp.

Song song với việc thực hiện những chủ trương lớn nhằm xây dựng một mô hình nhà nước mới, chính quyền mới cũng tiến hành sửa đổi, loại bỏ những rào cản phát triển kinh tế vốn có từ thời phong kiến. Ngay tháng 5 năm Minh Trị nguyên niên, Nhật Bản đã ban hành dự thảo “Luật thương mại”. Theo đó luật cho phép tự do kinh doanh, thông thương. Tháng 9 cùng năm, bãi bỏ lệnh cấm vận chuyển gạo giữa các han và từ tháng 1-1872, người dân được tự do đi lại, vận chuyển hàng hóa. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tháng 9-1871, chính phủ đã cho phép nông dân được tự do canh tác. Tháng 2-1872, bãi bỏ lệnh cấm mua bán đất đai có từ thời Edo. Chính quyền mới cũng tiến hành cải cách địa tô từ năm 1873-1881. Mặc dù còn có nhiều hạn chế, nhưng việc bãi bỏ những quy định về quyền sở hữu, cho phép tự do kinh doanh, mua bán đất đai, tự lựa chọn cây trồng thích hợp đồng thời ban hành chính sách thuế thống nhất bằng 3% giá đất… Tất cả những chính sách đó có ý nghĩa như một cuộc cách mạng ruộng đất trong lịch sử Nhật Bản. Những thay đổi đó đã có vai trò rất lớn, thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, tạo ra những cơ sở thiết yếu cho việc cải cách địa tô sau này. Do mức thuế được ấn định bằng tiền nên các chủ sở hữu đất có thể thu được nhiều nguồn lợi từ việc cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển chuyên canh và giảm chi phí sản xuất tạo nên sức phát triển mới cho kinh tế nông nghiệp.

Việc xây dựng hệ thống ngân hàng cũng được chính phủ chú ý và coi đây là một biện pháp quan trọng để thu hút, tập trung nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ngay từ năm 1869, với sự tham gia của các thương nhân giàu có như Mitsui, Ono… chính phủ đã thành lập công ty kinh doanh và trao đổi tiền tệ. Công ty có 8 chi nhánh ở Tokyo và Osaka hoạt động như chức năng của một ngân hàng. Công ty này có nhiệm vụ cho vay, nhận tiền gửi và phát hành trái phiếu. Trên cơ sở đó, đến năm 1872, theo đề án của Ito Hirobumi (1841-1909), chính phủ đã ban hành quy chế Ngân hàng quốc gia học tập theo mô hình của Mỹ. Năm 1873, Ngân hàng quốc gia số I đã được thành lập tại Tokyo. Sau đó, các Ngân hàng quốc gia số II, số IV, số V đã được thành lập tại những thành thị quan trọng đồng thời là các trung tâm kinh tế lớn như: Yokohama, Niigata và Osaka. Năm 1882, Ngân hàng Nhật Bản được chính thức thành lập. Những loại tiền tệ do một số lãnh chúa địa phương lưu hành trước đây bị xóa bỏ, Nhật Bản sử dụng một loại tiền thống nhất do “Cục đúc tiền” phát hành. Như vậy, cùng với việc ban hành chính sách thuế, tận thu thuế từ lĩnh vực nông nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu, từng bước Nhật Bản đã tạo dựng được nguồn vốn và cơ sở tích lũy cần thiết để tiếp tục hiện đại hóa đất nước, xây dựng thể chế chính trị mới.

Để thúc đẩy sản xuất, quá trình lưu thông hàng hóa và tiền tệ, chính phủ Minh Trị đã tập trung xây dựng hệ thống thông tin liên lạc. Tháng 3-1871, dựa theo hệ thống bưu chính của Anh, mạng lưới bưu điện giữa 3 thành phố lớn là Tokyo, Osaka, Kyoto đã được xây dựng. Năm 1872, Nhật Bản mới có 21 trạm bưu điện nhưng chỉ 2 năm sau đã tăng lên đến 3.224 bưu điện. Năm 1877, Nhật Bản đã thiết lập được 2.827 dặm điện tín và đến năm 1893 là 4.000 dặm. Mạng lưới này trải rộng hầu khắp lãnh thổ Nhật Bản. Đồng thời, ngành bưu chính Nhật Bản cũng thực hiện một giá tem thống nhất.

Cùng với thông tin liên lạc, giao thông cũng là một trong những điều kiện không thể thiếu đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa tư bản đặc biệt là đường sắt và đường biển. Dựa theo hệ thống đường sắt của Anh, năm 1870, tuyến đường sắt nối liền Tokyo và Yokohama đã được khởi công với sự giám sát kỹ thuật của chuyên gia Anh và nguồn vốn vay của chính phủ Anh. Nhờ đó, chỉ 2 năm sau tuyến đường này đã khai thông. Cũng trong năm 1870, tuyến đường sắt nối liền Kobe và Osaka cũng được khởi công nhưng đến năm 1874 hoàn thành. Năm 1879, tuyến đường sắt Tokaido (Đông hải đạo) nối Tokyo với Kobe cũng được khánh thành. Về sau tuyến đường này đã nối liền miền Tây (Nagasaki) với miền Đông (Aomori) Nhật Bản. Tuy nhiên, do gặp khó khăn về tài chính nên việc triển khai xây dựng các tuyến giao thông luôn gặp nhiều trở ngại. Do vậy, chính phủ đã khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này như miễn thuế, hỗ trợ kỹ thuật… Kết quả là, đến những năm 1893, mạng lưới đường sắt của Nhật Bản đã lên đến gần 2.000 dặm. Trong đó, chiều dài đường sắt do tư nhân xây dựng là 1.165 dặm.

Là một quốc gia hải đảo, lĩnh vực vận tải đường biển cũng được chính phủ mới hết sức chú trọng và đầu tư nguồn vốn lớn. Từ cuối thời kỳ Edo, trên cơ sở học tập kỹ thuật phương Tây, Nhật Bản đã có khả năng đóng những tàu có trọng tải lớn mặt khác cũng chủ động xuất vốn mua tàu của nước ngoài. Do vậy, từ năm 1868 những chuyến vận chuyển hàng hóa giữa Osaka với Kobe, Osaka với Yokohama và Tokyo với Yokohama đã được thực hiện. Ban đầu, chính phủ đưa ra chủ trương quốc hữu hóa toàn bộ các tuyến vận tải đường biển nhưng đến năm 1875 chính phủ đã quyết định giao quyền quản lý vận tải (kaiun) gồm hơn 30 chiếc tàu cho Iwasaki Yataro (1834-1885), người sáng lập công ty Mitsubishi. Ngoài ra, hàng năm chính phủ còn trợ cấp cho công ty 200.000 yên. Do đã có công tham gia và hoàn thành những trọng trách mà chính phủ giao như việc chuyển vận quân sự trong cuộc tiến quân sang Đài Loan và ngăn chặn võ sĩ nổi loạn ở Satsuma nên Mitsubishi đã được chính phủ bảo trợ. Số tàu của công ty đã chiếm tới 80% tổng số tàu vận tải của Nhật Bản. Đến năm 1893, số tàu chạy bằng hơi nước có trọng tải đến 100.000 tấn. Tất cả những thành tựu đó có vai trò rất quan trọng trong việc lưu thông, vận tải trong nước, cạnh tranh với các công ty vận tải hàng hải quốc tế và hình thành thị trường thống nhất ở Nhật Bản.

Sau khi thành lập, chính phủ Minh Trị đã nắm quyền quản lý và kế thừa những cơ sở kỹ thuật, vật chất của những công xưởng vốn được thiết lập từ trước đồng thời cho xây dựng các công xưởng, nhà máy mới. Năm 1870, chính phủ đã mở công xưởng sản xuất pháo binh ở Osaka trên cơ sở sử dụng thiết bị của xưởng luyện kim của Mạc phủ ở Nagasaki, xưởng đóng tàu ở Ishikawa thành công xưởng của hải quân. Chính phủ cũng đã xây dựng các nhà máy mới như nhà máy đóng tàu ở Hyogo, nhà máy dệt ở Sakai, nhà máy sợi ở Hiroshima… Từ năm 1868 đến 1881, chính quyền Minh Trị đã đầu tư 36,4 triệu yên để phát triển các công ty, doanh nghiệp. Đến năm 1880, trừ những quân xưởng, nhiều công ty quốc doanh đã được nhượng lại với giá thấp cho giới chủ doanh nghiệp và tư bản tư nhân đặc biệt là những người có năng lực, có công hay có những mối liên hệ mật thiết với chính quyền. Họ tự tập hợp thành một tầng lớp chính thương (seisho) rất có thế lực. Bằng cách đó, chính phủ đã thành công trong việc tạo dựng một đội ngũ các nhà tư bản công nghiệp đứng luôn ủng hộ chính phủ và do vậy sẽ chú ý tuân thủ sự chỉ đạo của chính phủ. Sau cải cách Minh Trị, nhiều người đứng đầu các công ty tư bản đã trở thành những tập đoàn tài phiệt (zaibatsu) có thế lực lớn cấu kết hết sức chặt chẽ với giới lãnh đạo chính trị của Nhật Bản.

Để thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển các ngành công nghệ mới, bắt nhập với những tiến bộ chung của thế giới, chính quyền mới không chỉ đã đi tiên phong trong việc nhập khẩu kỹ thuật, thiết bị, nguyên liệu mà còn chịu trách nhiệm cả về việc huy động nguồn nhân lực trí tuệ như kỹ sư, chuyên gia ngoại quốc. Các chuyên gia nước ngoài phục vụ chủ yếu trong những ngành mũi nhọn như: giao thông, quân sự, công nghiệp, giáo dục, biên soạn luật pháp, kỹ thuật và nguyên tắc ngoại giao… Tính đến năm 1890, có tất cả khoảng 3.000 chuyên viên ngoại quốc đã được mời sang giảng dạy, quản lý và làm cố vấn cho Nhật Bản.

Trong sự nghiệp canh tân của Nhật Bản, giáo dục được đặc biệt coi trọng bởi đây là ngành tạo nên nguồn trí thức cho sự phát triển căn bản và bền vững của tất cả các ngành ở Nhật Bản. Về giáo dục, ngay sau khi được thiết lập, năm 1871 chính quyền Minh Trị đã lập Bộ Giáo dục để quản lý và triển khai việc xây dựng một hệ thống giáo dục quốc gia với nội dung và tư tưởng hiện đại. Năm sau, tháng 8-1872 bộ “Luật Giáo dục” cũng được ban hành với nội dung căn bản: 1. Từ bỏ hệ thống giáo dục phong kiến và chế độ phân biệt đẳng cấp; 2. Mục đích của giáo dục nhà trường là giáo dục các môn khoa học thực tiễn cần thiết cho con người; 3. Chi phí giáo dục do nhân dân đóng góp. Với những mục tiêu cách mạng đó dựa theo hệ thống giáo dục của Pháp, Nhật Bản được chia ra thành 8 học khu. Mỗi học khu bao gồm 32 khu trung học và mỗi một khu trung học lại có 210 trường tiểu học. Như vậy, trong 8 học khu có 256 trường trung học và 53.760 khu giáo dục tiểu học với mỗi khu vực là khoảng 600 người.

Để thực hiện quyết tâm nâng cao trình độ dân trí, chế độ giáo dục bắt buộc được thực hiện. Chính quyền mới cũng tôn trọng quyền bình đẳng về giáo dục và cơ học học tập cho tất cả mọi thành phần xã hội. Nhờ đó, năm 1873 mới chỉ có 28% tổng số cư dân đến tuổi đi học thì năm 1882 con số này đã tăng lên 50%, năm 1895 là 67%, 1904 là 98%. Những thành tựu giáo dục đó cho thấy nhu cầu học tập to lớn của nhân dân, kết quả của chế độ giáo dục bắt buộc đồng thời cũng cho thấy nhân dân ủng hộ mạnh mẽ chủ trương của chính quyền mới trong việc quyết tâm xây dựng một nhà nước hiện đại. “Một nền giáo dục phổ cập đã khiến cho Nhật Bản trở thành nước đầu tiên ở châu Á có một lượng lớn quần chúng biết đọc biết viết. Một trình độ giáo dục phổ thông cao, cũng như sức mạnh quân sự và khả năng kỹ nghệ là lý do cắt nghĩa tại sao Nhật Bản đã chiếm được ưu thế tại vùng Đông Á vào nửa đầu thế kỷ XX”. Trong sự nghiệp phát triển giáo dục hiện đại đó, Fukuzawa Yukichi (1835-1901) là người có nhiều ảnh hưởng và công lao lớn. Ông được tôn vinh là “Người Thầy của dân tộc”. Tư tưởng cải cách của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình thiết lập và phát triển của một nhà nước mới và có ý nghĩa vạch đường đi cho dân tộc.

Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian 10 năm đầu của Minh Trị duy tân (1868-1878), lịch sử Nhật Bản còn được gọi là thời kỳ “Văn minh khai hóa” (Bunmei kaika hay Civilization and enlightenment). Đây chính là thời đại mà ý thức dân tộc được thúc đẩy mạnh mẽ hướng đến việc tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh phương Tây nhằm canh tân đất nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Bởi vậy, những trí thức Dương học giả (Yogakusha) tập trung trong hiệp hội trí thức Minh lục xã (Meirokusha) đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là một hiệp hội do Mori Arinori (1848-1889) và Nishimura Shigeki (1828-1902) sáng lập tháng 2-1875 hoạt động theo cách thức và mô hình Hoa Kỳ.

Sau khi thành lập, hội đã bắt tay ngay vào việc dịch thuật, truyền bá tri thức cùng những khái niệm khoa học phương Tây sang Nhật ngữ. Các thuật ngữ khoa học, chính trị, triết học do các học giả Nhật Bản sáng tạo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các trí thức Trung Quốc và khu vực. Để khắc phục sự ngăn cách trong ý niệm và nhận thức giữa tinh thần, đạo đức truyền thống phương Đông với các thành tựu văn hóa vật chất phương Tây, Meirokusha cho rằng văn minh phương Tây cũng có nhiều giá trị tư tưởng và triết luận. Do vậy, Nhật Bản cần phải tiếp thu không những các thành tựu khoa học, kỹ thuật mà còn cả các giá trị tinh thần của văn minh phương Tây. Những công trình như Tinh thần luật pháp của Montesquieu (bản dịch tiếng Nhật là Banpô seiri – Vạn pháp tinh lý, xuất bản năm 1876) hay Xã hội khế ước luận của Rousseau được Hattori dịch và xuất bản ngay năm 1877 dưới tiêu đề là Roshi Min yakuron tức Dư thị dân ước luận… Đây là những tác phẩm có ảnh hưởng mạnh nhất đối với giới trí thức Nhật Bản thời Minh Trị. Đặt trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, đó là sự thay đổi nhận thức căn bản của giới trí thức và chính trị Nhật Bản. Các học giả tham gia hội Meirokusha đã để lại nhiều tác phẩm có ảnh hưởng xã hội mạnh mẽ trong số đó có thể kể đến: Lân thảo của Kato viết năm 1861 (Tonarigusa tức Cỏ nhà láng giềng), Tây dương sự tình của Fukuzawa Yukichi (Seiyo jijo, 1866-1870), Bách nhất tân luận của Nishi Amane (Hyakuichi shinron) v.v… Trong bối cảnh đó, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tổ chức hội đoàn, chính đảng cũng được thực hiện và thực sự đã tạo ra một khung cảnh xã hội mới cho dân tộc Nhật Bản. Đây là những chuyển biến mới mang đậm dấu ấn tiến bộ của thời đại. Tuy nhiên, các quyền lợi này của nhân dân còn có nhiều hạn chế. Trên thực tế, nhiều phong trào đấu tranh giành đòi thực hiện Văn minh khai hóa (Bunmei kaika), quyền dân chủ và bảo đảm những lợi ích kinh tế đã bị kiềm tỏa và giám sát nghiêm ngặt.

Như vậy, sau khi Nhật Bản mở cửa đất nước, chấm dứt hơn 2 thế kỷ thực hiện chính sách tỏa quốc, trước những biến động của tình hình chính trị trong nước và quốc tế, chính quyền Tokugawa đã phải trao trả lại quyền lực chính trị và đất đai cho Thiên hoàng. Ngay sau khi thành lập, chính quyền Minh Trị đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng một chính quyền Trung ương tập quyền mạnh. Nhìn nhận từ góc độ lịch sử châu Á cũng như lịch sử thế giới có thể nói, không có một quốc gia nào có thể tiến hành một cuộc cải cách mau chóng và đạt nhiều thành tựu như vậy. Chính phủ mới đã giải thể chế độ phong kiến, xây dựng được một thiết chế chính trị mạnh đồng thời tích cực chuẩn bị những nền tảng căn bản cho việc kiến lập một nhà nước hiện đại theo hướng tư bản chủ nghĩa. Đánh giá về thành công đó, trong diễn văn ngày 1-1-1874, Fukuzawa Yukichi viết: “Nhà nước ngày nay không chỉ có quyền lực mà còn giàu có và khôn ngoan nữa. Không có một lĩnh vực nào nhà nước tụt hậu lại sau thời đại. Không đầy 10 năm sau thời đại phục hưng Minh Trị, các cải cách trong hệ thống giáo dục và quân sự, trong ngành đường sắt và điện báo, trong việc xây dựng các lâu đài bằng bê tông và cầu bằng thép, tất cả đều là do sự nhanh nhạy của nhà nước. Sự tuyệt hảo của các thành tựu thật sự đáng ngạc nhiên”.(23)

Chính sách đối ngoại và chiến tranh xâm lược

Năm 1858, nhà Thanh thua trận trong cuộc “Chiến tranh nha phiến” lần thứ hai và phải ký “Điều ước Thiên Tân” với Anh và Pháp. Sự thất bại đó của Trung Quốc, một trung tâm văn minh và quyền lực lớn nhất của thế giới Đông Á, khiến cho người Nhật phải suy tính thận trọng và tỉnh táo hơn về vị thế chính trị của Nhật Bản và trong việc đề ra các quyết định của mình.

Nhận thấy sức mạnh to lớn của Mỹ và muốn dựa vào Mỹ để kiềm chế tham vọng của các quốc gia tư bản khác đối với Nhật Bản, tháng 6-1858, Mạc phủ đã ký tiếp với Mỹ “Điều ước thông thương Nhật – Mỹ” (Nichibei shuko tsusho joyaku, Nhật – Mễ tu hảo thông thương điều ước). Theo bản điều ước này, Nhật Bản sẽ mở cửa cảng Shimoda, Hakodate, Kanagawa, Nagasaki, Niigata, Hyogo, quy định nơi cư trú của người ngoại quốc, trao cho Mỹ ngoại trị pháp quyền. Điều đó có nghĩa rằng, nếu một người Mỹ phạm tội trên lãnh thổ Nhật Bản thì người đó sẽ bị xử phạt theo luật pháp Mỹ chứ không phải theo pháp luật Nhật Bản. Nhật Bản cũng không có quyền quyết định về thuế quan. Tuy nhiên, sau khi ký “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” với Mỹ, ngày 31-3-1854, Nhật Bản đã tạo ra một tiền lệ không thể chối từ những đề nghị mở cửa của những cường quốc khác. Ngày 14-101854, Nhật Bản phải ký hiệp ước với Anh; ngày 7-2-1855, ký hiệp ước với Nga; ngày 30-1-1856, ký hiệp ước với Hà Lan. Ngoài ra, chính quyền phong kiến Nhật Bản còn ký hiệp ước với Pháp (7-10-1858), Bồ Đào Nha (3-81860), Đức (15-1-1861) và các nước Ý, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Sĩ, Áo, Hung, Thụy Điển, Na Uy, Peru, Mexico, Hawaii, Trung Quốc, Triều Tiên, Thái Lan…

Như vậy, sau khi ký hiệp ước với Mỹ, trong khoảng 4 năm (1854-1858), Nhật Bản đã ký hiệp ước ngoại giao và thương mại với tất cả 20 nước và khu vực lãnh thổ của ba châu lục. Trong đó, châu Âu: 13 nước, châu Á: 3 và châu Mỹ: 4. Trong lịch sử quan hệ của các quốc gia châu Á và thế giới, quyết định mở cửa của Nhật Bản là một trường hợp điển hình. Nhật Bản là nước thi hành chính sách tỏa quốc liên tục và lâu dài nhất (215 năm) nhưng khi đi đến quyết định bãi bỏ chính sách tỏa quốc, chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, Nhật Bản đã quyết định ký hiệp ước với đồng thời nhiều nước, từ nhiều châu lục khác nhau trên thế giới. Đó là một chính sách mở cửa hết sức táo bạo đồng thời nó cũng cho thấy quyết tâm hội nhập với môi trường chính trị, kinh tế thế giới của người Nhật. Tuy nhiên, đối với Nhật Bản những bản hiệp ước còn mang nhiều nội dung bất bình đẳng và việc sửa đổi nội dung của nó đã trở thành mục tiêu trọng tâm trong chính sách đối ngoại của chính quyền Minh Trị.

Sau khi chính quyền mới được thiết lập, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đặt ra đối với giới lãnh đạo Nhật Bản là phải mau chóng tìm ra một giải pháp để có thể đề nghị các nước Âu-Mỹ sửa đổi nội dung các bản “Hiệp ước bất bình đẳng” mà Mạc phủ Edo đã ký trước đây. Những người đứng đầu chính phủ lúc đó đã xác định: nếu như Nhật Bản vẫn tiếp tục tự cô lập mình trong thế giới Đông Á, không hiểu rõ tình hình xã hội Âu-Mỹ, không nắm bắt được những thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến của thế giới cũng như không sớm sửa đổi được nội dung các bản “Hiệp ước bất bình đẳng” thì Nhật Bản sẽ mãi mãi lệ thuộc vào các cường quốc phương Tây về chính trị, kinh tế và ngoại giao. Việc Nhật Bản không thể toàn quyền quyết định mức thuế hải quan không chỉ là thiệt hại về kinh tế mà còn bị vi phạm nghiêm trọng về chủ quyền. Trong điều kiện đó, Nhật Bản sớm muộn cũng sẽ phải chịu chung số phận với các nước khu vực cũng như nhiều dân tộc phương Đông khác. Trong hoàn cảnh đó, chính quyền mới đã phải đồng thời thực thi nhiều biện pháp để xây dựng một nhà nước tự chủ, thực hiện bằng được mục tiêu “Phú quốc cường binh”.

Với quyết tâm thực hiện bằng được những mục tiêu chiến lược có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp canh tân và trường tồn của dân tộc, theo lời khuyên của Guido Herman Fridolin Verbeck, chính quyền Minh Trị đã quyết định cử một phái bộ gồm trên 100 người trong đó có 48 thành viên chính thức do Hữu đại thần Iwakura Tomoni (1825-1883) dẫn đầu sang Mỹ và châu Âu. Với 4 nội dung cơ bản: 1. Học tập cách thức tổ chức chính trị tức là học tập cách thức tổ chức, vận hành các cơ quan nhà nước như chính phủ, ngoại giao, nghị viện, tòa án…; 2. Học tập cách tổ chức kinh tế với mục tiêu trọng tâm là thiết lập các cơ quan kinh tế, thuế quan, ngân hàng, ban hành quốc trái, chế độ bảo hiểm, thương mại, xây dựng công xưởng, hệ thống giao thông, điện lực, bưu điện…; 3. Học tập cách tổ chức giáo dục: cách thức tổ chức các trường công, trường tư, chế độ thu chi, học phí, tuyển chọn, xây dựng chương trình, cách thức đánh giá, chia lớp…; 4. Học tập về cách tổ chức quân đội: Tìm hiểu về các luật lệ, lương bổng cũng như cách thức xây dựng, huấn luyện, chỉ huy quân đội. Cách thức xây dựng cảng, chế độ hải quan, cách xây dựng các kho vũ khí, xây dựng Bộ Hải quân, thăm các cơ sở luyện kim, chế tạo vũ khí…

Với việc xác định rõ 4 mục tiêu căn bản đó, chủ trương của Nhật Bản nhằm xây dựng một nhà nước hiện đại theo mô hình phương Tây là rất căn bản với những mục tiêu thiết yếu được xác định một cách cụ thể. Tinh thần cải cách đó được thể hiện rõ trong bức thư của Thiên hoàng Minh Trị gửi cho Tổng thống Mỹ năm 1871 qua phái bộ Iwakura: “Văn minh và tình hình mọi mặt của Nhật Bản hoàn toàn khác biệt với các nước khác vì thế chúng tôi không thể mong muốn đạt đến trình độ cần thiết ngay lập tức. Mục tiêu của chúng tôi là thu nhận những thành tựu phong phú của các quốc gia tiên tiến, học tập những điều phù hợp nhất với điều kiện Nhật Bản hiện tại, tiếp nhận những thành tựu đó và từng bước cải tiến và biến đổi chúng trong chính sách và tập quán của chúng tôi để rồi trở nên hòa hợp với chúng”.(25)

Mặc dù chuyến đi không hoàn toàn đạt được kết quả như dự kiến ban đầu nhưng những gì mà các thành viên trong Phái bộ, học tập được ở các nước Âu-Mỹ đã góp phần hết sức quan trọng vào việc hoạch định những chủ trương chiến lược cho sự phát triển và vận hành của một mô hình nhà nước mới. Chuyến đi sang Âu-Mỹ không chỉ đã trang bị cho Phái bộ một tầm nhìn quốc tế, có những nhận định tổng quan về văn minh Âu Mỹ mà còn góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa tiến trình cải cách, đưa Nhật Bản thực sự hội nhập với những phát triển chung của thế giới. Qua chuyến đi đó, người Nhật cũng hiểu thêm về chính mình, về vị thế và mức độ phát triển của Nhật Bản, của văn minh phương Đông đồng thời hiểu được con đường cần thiết mà dân tộc Nhật Bản phải hướng tới. Chuyến đi cũng đem lại cho các thành viên phái bộ một cái nhìn thực tế, khách quan về những ưu thế, sự tiến bộ của các nền văn minh Âu-Mỹ cũng như những hạn chế thậm chí mặt trái của xã hội phương Tây. Qua đó, Phái bộ cũng có những đánh giá cụ thể về tiềm lực, sức mạnh của mỗi nước và tự rút ra những kinh nghiệm quý, lựa chọn được các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật cụ thể mà Nhật Bản có thể học hỏi. Có thể nói, kết quả thu được của Phái bộ là hết sức to lớn. Các thành viên Phái bộ đã đem về Nhật Bản một kho tàng kiến thức và kinh nghiệm vô giá về việc xây dựng một nhà nước hiện đại. Sau khi trở về Tổ quốc, từ những điều ghi chép của các thành viên Phái bộ, họ đã tập hợp lại thành một bộ sách gồm 5 tập. Có thể coi đó là đỉnh cao của giới nghiên cứu Nhật Bản về văn minh phương Tây thời cận đại.

Tuy nhiên, những thành viên chủ chốt của Phái bộ cũng đã rút ra một kết luận rất có ý nghĩa là: Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi, Nhật Bản không thể thiết lập mối quan hệ bình đẳng với các nước lớn và cũng không thể bằng con đường vận động ngoại giao để yêu cầu các cường quốc sửa đổi những hiệp ước đã ký trước đây. Vì vậy, sự lựa chọn duy nhất đúng là phải nhanh chóng canh tân đất nước, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu cải cách, khi nước đã cường, dân đã thịnh, binh đã mạnh thì việc thiết lập quan hệ bình đẳng với các cường quốc là điều có thể thực hiện được.

Trong khi Phái bộ Iwakura sang thăm và học tập ở các nước Âu-Mỹ, ở trong nước quyền lực chính trị tập trung trong tay Okuma, Saigo và Itagaki.

Nhằm tìm ra một lối thoát trong việc giải quyết những vấn đề chính trị trong nước đặc biệt là tình trạng bất mãn của đẳng cấp võ sĩ đồng thời muốn mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản sang các quốc gia khu vực, một số thế lực trong chính quyền Minh Trị đã chuẩn bị cho một kế hoạch xâm lược Triều Tiên để “trừng phạt” nước này với nguyên cớ không mở cửa đất nước theo yêu cầu của Nhật Bản. Nhưng, kế hoạch trên đã bị Phái bộ Iwakura sau khi về nước ngăn chặn. Theo chủ trương của Phái bộ thì Nhật Bản cần phải tập trung giữ thế ổn định chính trị trong nước và cần dồn nguồn kinh phí để phát triển công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau, tức là đến tháng 9-1875, Nhật Bản đã đưa tàu chiến sang Kanghwa-do (Giang Hoa đảo), đảo phòng thủ Seoul, thị uy và tấn công đánh chiếm đảo này. Kết quả của cuộc tấn công đó đã buộc triều đình Choson phải ký điều ước Kanghwa vào tháng 2-1876 chấp nhận mở cảng Pusan, Inchon và Wonsan cho Nhật Bản vào buôn bán, công nhận đặc quyền ngoại giao và chế độ quan thuế do Nhật Bản áp đặt.

Cũng trong thời gian đó, nhận thấy sự suy yếu của nhà Thanh, Nhật Bản chủ trương mở rộng ảnh hưởng xuống phương Nam. Năm 1874, chính quyền Minh Trị phái Saigo Tsugumichi (1843-1902), em ruột của Saigo Takamori, một trong những người hăng hái nhất thuộc phe chủ chiến, đưa quân sang Đài Loan để “trừng phạt” Đài Loan với lý do đã giết hại 54 thủy thủ người Ryukyu (Lưu Cầu) bị nạn trôi dạt vào đảo này năm 1871. Với chiến thắng này, nhà Thanh đã phải chấp nhận bồi thường chiến phí cho Nhật Bản đồng thời qua đó gián tiếp chấp nhận “chủ quyền” của Nhật Bản ở Ryukyu. Nhân cơ hội đó, chính quyền Minh Trị cũng sáp nhập Ryukyu vào lãnh thổ Nhật Bản và biến Lưu Cầu quốc thành Lưu Cầu phiên và năm 1879 chính thức đổi Ryukyu han thành huyện Okinawa của Nhật Bản.

Việc Nhật Bản buộc Triều Tiên phải ký điều ước thông thương năm 1876 đã khiến quan hệ Trung – Nhật trở nên hết sức căng thẳng. Với lý do Triều Tiên là một nước thần thuộc không có quyền tự ý ký hiệp ước về ngoại giao, triều đình Bắc Kinh phủ nhận điều ước Kanghwa. Tình thế chính trị đó đã đẩy Triều Tiên trở thành nơi tranh giành quyền lực của hai nước lớn trong khu vực. Năm 1889, vì mất mùa, chính quyền Choson ra lệnh cấm xuất khẩu gạo và đậu nành sang Nhật. Nhật Bản phản ứng quyết liệt và đòi Triều Tiên triệt hồi lệnh này. Không còn cách nào khác chính quyền Seoul phải yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ để chống lại áp lực của Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, nền chính trị Triều Tiên trở nên hỗn loạn và phân hóa sâu sắc. Cả Trung Quốc và Nhật Bản đều đưa quân sang Triều Tiên can thiệp. Ngày 1-8-1894, chiến tranh Nhật – Thanh bùng nổ. Nhờ có chiến thuật quân sự phương Tây, lực lượng hải quân mạnh, vũ khí hiện đại và sự cổ vũ tinh thần mạnh mẽ mà quân đội Nhật Bản đã mau chóng giành được thắng lợi trên đất Triều Tiên và dự định tiến quân về uy hiếp Bắc Kinh. Khiếp sợ trước những tham vọng của Nhật Bản, chính quyền Bắc Kinh phải yêu cầu “giảng hòa” và chấp thuận ký hòa ước Shimonoseki (Hạ quan) giữa Ito Hirobumi và Lý Hồng Chương vào ngày 17- 4-1895. Theo đó, nhà Thanh phải:

1. Công nhận Triều Tiên là một nước độc lập (trên thực tế là công nhận ảnh hưởng của Nhật Bản);

2. Cắt bán đảo Liêu Đông và các đảo Đài Loan, Bành Hồ cho Nhật;

3. Bồi thường 200 triệu lạng (taels tức khoảng 360 triệu yên) cho Nhật Bản;

4. Ký điều ước thông thương và hàng hải với những điều kiện Nhật Bản đã phải ký với phương Tây đồng thời công nhận Nhật Bản là nước được quyền ưu đãi tối đa;

5. Mở các cảng Sa Thị, Trùng Khánh, Tô Châu, Hàng Châu để tàu thuyền của Nhật đi lại trên sông Dương Tử.

Trong khi Nhật Bản đang say sưa với thắng lợi, bất ngờ ngày 23-41895, ba nước Nga, Pháp, Đức vì những lợi ích đế quốc, đã ép Nhật trả lại bán đảo Liêu Đông cho Trung Quốc. Lượng thấy không thể đương đầu đồng thời với ba nước phương Tây, Nhật Bản phải nhượng bộ. Đến năm 1898, Nga chính thức gây áp lực buộc Trung Quốc nhường bán đảo Liêu Đông cho Nga trong thời hạn 25 năm. Như vậy, tham vọng của Nga bành trướng về phía đông đã rõ. Đối với Nga, Liêu Đông là một vị trí có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng. Chiếm được bán đảo này có thể khống chế được tình hình chính trị ở Trung Quốc, Triều Tiên… ở đây còn có cảng Lữ Thuận (Port Arthur) không đóng băng vào mùa đông, thuận lợi cho các tàu Nga hoạt động. Nhận thấy “khu vực lợi ích” của Nhật Bản bị đe dọa và chiến tranh Nhật – Nga sớm muộn cũng nổ ra, Nhật Bản đã ra sức xây dựng lực lượng hải quân mạnh. Đến năm 1903 Nhật Bản đã có tất cả 76 tàu chiến từ khu trục hạm trở lên và hàng trăm tàu quân sự, vận tải khác. Mặt khác, chính quyền Minh Trị chủ trương liên minh với Anh để chống lại Nga. Về phần mình, Anh cũng không muốn Nga tăng cường ảnh hưởng ở vùng Đông Á và tăng cường ưu thế hải quân ở khu vực này nên cũng muốn mượn tay Nhật để ngăn chặn tham vọng của Nga. Kết quả là, tháng 7-1902, “Hiệp ước đồng minh Nhật – Anh” đã được ký kết với nội dung cơ bản là hai nước sẽ tham gia giao chiến nếu một trong hai nước có chiến tranh với nước thứ ba. Đây là bản hiệp ước bình đẳng đầu tiên mà Nhật Bản có thể ký với phương Tây đồng thời tạo vị thế ngoại giao cho Nhật Bản, tránh rơi vào tình trạng phải đối chọi với đồng thời nhiều nước phương Tây khi chiến tranh xảy ra.

Ngày 8-2-1904, áp dụng chiến thuật quân sự hiện đại, hải quân Nhật Bản bất ngờ tấn công hạm đội Viễn Đông của Nga ở cảng Lữ Thuận đồng thời cho lục quân chiếm bán đảo Liêu Đông và vượt sông Áp Lục tràn vào Mãn Châu. Mặc dù có ưu thế về binh lực hơn Nhật nhưng do đường tiếp vận xa xôi nên quân Nga cũng gặp nhiều khó khăn. Các trận đánh giữa hai bên diễn ra hết sức quyết liệt, gây nên những tổn thất nghiêm trọng về sinh mạng nhưng Nhật Bản vẫn chưa thực sự giành được thắng lợi căn bản trên chiến trường. Phải đến ngày 27-5-1905, với việc đánh tan hạm đội Baltic của Nga ở vùng biển Tsushima (Đối Mã), Nhật Bản mới giành được thắng lợi quyết định. Với vai trò trung gian của Mỹ đặc biệt là sự dàn xếp của tổng thống Theodore Roosevelt nên mặc dù Nga có thái độ cứng rắn nhưng cuối cùng ngày 5-9-1905, bản “Hòa ước Nhật – Nga” đã được ký kết tại Portsmouth, New Hampshire, Mỹ. Hòa ước có nội dung cơ bản:

1. Nga công nhận đặc quyền kinh tế và chính trị của Nhật ở Triều Tiên (Đại Hàn) và Nhật sẽ bảo hộ Triều Tiên từ nay về sau;

2. Nga giao lại hai nhượng địa là Lữ Thuận và Đại Liên cho Nhật;

3. Nga giao lại cho Nhật đường xe lửa Trường Xuân – Lữ Thuận (tức đường xe lửa nam Mãn Châu) và các mỏ khoáng sản trong vùng;

4. Thay cho việc bồi thường chiến phí, Nga công nhận từ vĩ độ bắc 50 độ trở về phía nam của đảo Sakhalin là lãnh thổ của Nhật Bản;

5. Nga công nhận quyền đánh cá của Nhật ở Bắc Băng Dương.

Mặc dù Nga đã phải nhân nhượng Nhật Bản ở nhiều điểm quan trọng trong “Hòa ước Portsmouth” nhưng nhiều bộ phận dân chúng Nhật Bản vẫn cho rằng đó là một bản hòa ước không thỏa đáng so với những thắng lợi quân sự mà Nhật Bản giành được trên chiến trường cùng những tổn thất nặng nề về sinh mạng và kinh tế trong chiến tranh. Phía Nga đã không chịu bồi thường chiến phí. Khu vực lãnh thổ mà Nga trao trả cho Nhật cũng hạn chế…

Trên thực tế, sau khi chiếm đóng Đài Loan, Ryukyu và tiến hành chiến tranh Nhật – Thanh rồi Nhật – Nga, Nhật Bản tự mình đã trở thành một nước đế quốc trong khu vực. Nhật Bản đã thiết lập được một khu vực ảnh hưởng và thuộc địa rộng lớn ở một số quốc gia châu Á. Qua các cuộc chiến tranh, Nhật Bản cũng vươn lên trở thành cường quốc mạnh nhất châu Á, làm sụp đổ vị thế chính trị trung tâm truyền thống vốn đã tồn tại hàng ngàn năm của đế chế Trung Hoa. “Các nhà lãnh đạo Nhật Bản xuất thân từ đẳng cấp samurai đã hăng hái lao mình vào con đường của chủ nghĩa đế quốc châu Âu và đã sớm bỏ xa các đế quốc phương Tây trong quyết tâm chinh phục thuộc địa.

Họ thấy rằng một nước Nhật nghèo và nhỏ bé cần phải có nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn để có thể trở thành một cường quốc hàng đầu của thế giới và họ tin rằng việc kiểm soát các vùng đất lân cận sẽ cung cấp cho họ nhiều tài nguyên cần thiết và làm cho sức tự vệ của Nhật Bản mạnh thêm”.

Ý nghĩa lịch sử và ảnh hưởng đối với phong trào cải cách ở châu Á

5.1. Như vậy, trên cơ sở những tiền đề kinh tế – xã hội được hình thành trong lịch sử đặc biệt là thời kỳ Edo, vào nửa sau của thế kỷ XIX ở Nhật Bản đã diễn ra một cuộc cải cách to lớn. Cuộc cải cách đó không chỉ có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển của lịch sử Nhật Bản mà còn có những ảnh hưởng đối với sự lựa chọn con đường phát triển của nhiều dân tộc châu Á. Trong vòng 267 năm, từ trong lòng xã hội phong kiến những nhân tố của một nền kinh tế mới theo kiểu tư bản chủ nghĩa đã được hình thành. Mặc dù trong thời kỳ này, kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm giữ những vị trí quan trọng nhưng các ngành kinh tế khác như thủ công nghiệp, thương nghiệp, kinh doanh tiền tệ, dịch vụ… đã ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế để rồi từ đó dẫn đến những chuyển biến kinh tế – xã hội sâu sắc và rộng lớn.

Về lý luận, chủ nghĩa tư bản Nhật Bản được thiết lập không phải dựa vào những tiền đề của cuộc cách mạng công nghiệp như chủ nghĩa tư bản Anh và nhiều quốc gia tư bản khác ở châu Âu. Cơ sở kinh tế chủ yếu của cải cách Minh Trị suy cho đến cùng là dựa trên những chuyển biến trong nông nghiệp và một phần từ kinh tế công – thương nghiệp. Đêm trước của cuộc cải cách, nhìn chung xã hội Nhật Bản vẫn là một xã hội phong kiến nông nghiệp. Sau khi cải cách, kinh tế nông nghiệp vẫn có những đóng góp hết sức quan trọng cho sự nghiệp canh tân Nhật Bản. Nhưng, kinh tế nông nghiệp Nhật Bản nói chung đặc biệt là kinh tế nông nghiệp thời Edo có những đặc tính khác biệt căn bản so với các dân tộc khác ở châu Á. Đó là một nền kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa, sớm đi vào thâm canh và có trình độ thâm canh, chuyên canh ở mức độ cao.

5.2. Trên nền tảng của một thiết chế chính trị chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, thể chế phong kiến phân quyền ở Nhật Bản và các phương cách quản lý đặc thù của chính quyền Edo đã tạo nên những nhân tố phát triển riêng biệt. Trong những nhân tố đó thì sự phát triển đa dạng, khác biệt và mang tính cạnh tranh cao giữa các địa phương đã tạo nên môi trường thuận lợi cho những nhân tố xã hội, kinh tế mới nảy sinh. Theo đó, nhiều thành thị cận thế đã ra đời và trở thành nơi tập trung tiềm lực, sức mạnh kinh tế của Nhật Bản. Thành thị cũng là địa bàn hoạt động của những tập đoàn công thương giàu có nắm giữ những nguồn của cải lớn của đất nước. Trong môi trường kinh tế và xã hội đô thị, dòng văn hóa thị dân đã xuất hiện và tạo nên những cơ sở xã hội cần thiết cho sự phát triển giáo dục, sáng tạo văn hóa và tiếp nhận những tư tưởng, khuynh hướng học thuật mới của văn minh phương Tây. Có thể coi đó là những phát triển trội vượt của Nhật Bản cận thế so với các dân tộc khác ở châu Á. Cũng cần phải nói thêm là, cơ chế chính trị phân quyền cũng đã đào luyện nên một đội ngũ những nhà quản lý giàu kinh nghiệm, dám chịu trách nhiệm cá nhân trước các quyết định của mình. Đó chính là những di sản quý báu mà lịch sử để lại cho sự phát triển của nhà nước Nhật Bản hiện đại.

Nếu như so sánh, có thể thấy ở Nhật Bản vào thời tiền Minh Trị những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa tuy đã có những phát triển nhưng sự phát triển đó vẫn chủ yếu tập trung trong lĩnh vực kinh tế thương nghiệp và kinh doanh tiền tệ. Giai cấp tư sản còn non yếu chưa trở thành giai cấp độc lập và chưa thể tự xây dựng cho mình một ý thức giai cấp mạnh mẽ. Vì vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo phong trào. Các tầng lớp xã hội khác cũng trong hoàn cảnh tương tự. Trong bối cảnh đó, đẳng cấp võ sĩ phải đảm đương trọng trách trước dân tộc. Họ đều là những người trẻ tuổi, hăng hái, năng động đồng thời là những người có năng lực thực sự trên các phương diện. Các nhà cải cách đã chứng tỏ một khả năng thích ứng cao trước những biến đổi của điều kiện chính trị trong nước, quốc tế. Trước khi trực tiếp tham gia và lãnh đạo phong trào cải cách, nhiều người đã chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng, văn hóa và mô hình thể chế chính trị phương Tây.

5.3. Có thể thấy, cải cách ở Nhật Bản không chỉ là một quá trình vận động dân tộc từ thấp đến cao mà còn là quá trình trưởng thành và hoàn thiện không ngừng về tư tưởng cùng những chủ trương lớn trong việc xây dựng một mô hình nhà nước mới.

Thực tế lịch sử cho thấy, trước những chuyển biến sâu sắc của đất nước từ thời Edo, Mạc phủ Tokugawa cũng đã nhiều lần thay đổi chính sách và tiến hành cải cách. Đến những năm 30 của thế kỷ XIX, trước những chuyển biển trong nước và sức ép mạnh mẽ của các cường quốc phương Tây, một số han đã đưa ra và thực hiện những chính sách cải cách. Mục tiêu căn bản của những cuộc cải cách này là đưa Nhật Bản thoát khỏi cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Trước áp lực phương Tây cùng những thách thức đã và đang đặt ra đối với Nhật Bản, một bộ phận xã hội đông đảo đã ủng hộ chủ trương mở cửa (kaikoku, khai quốc) đất nước. Nhưng cũng có thể thấy “việc tích tụ các mâu thuẫn kinh tế này chỉ tạo ra một phần cơ sở cho một cuộc cách mạng chứ không phải nguyên nhân hay động lực của nó”(28). Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, trong giai đoạn đầu của quá trình vận động dân tộc, những người lãnh đạo cải cách “Họ không phải là những nhà quốc tế chủ nghĩa theo đúng nghĩa. Họ đã coi việc mở cửa đất nước chỉ là một thủ pháp. Họ đã quá tin rằng, phương Tây là mảnh đất của “lũ man di ngoại bang”; Họ cảm thấy cần phải mở cửa đất nước cho hiện tại nhưng họ nghĩ rằng, cuối cùng thì Nhật Bản sẽ là người lãnh đạo hùng mạnh của tất cả các quốc gia mà dưới sự lãnh đạo này thế giới có thể được thống nhất”.

Từ những đề nghị mang tính giải pháp với mục tiêu cơ bản là buộc chính quyền Edo phải thay đổi một số chính sách mở đường cho sự phát triển độc lập, tự chủ của các địa phương, phong trào cải cách đã lan rộng ra nhiều vùng Nhật Bản và đã tiến xa so với mục tiêu ban đầu thông qua những sự kiện lịch sử diễn ra liên tiếp từ khoảng cuối năm 1867 đầu năm 1868. Cuộc vận động dân tộc này đã kết thúc bằng việc tướng quân Keiki (tức Yoshinobu) phải trao trả lại toàn bộ quyền lực cho Thiên hoàng cùng phe cải cách. Có thể coi, thắng lợi của cải cách Minh Trị là thắng lợi của quá trình chuyển biến và hoàn thiện không ngừng về nhận thức con đường phát triển dân tộc của những người lãnh đạo phong trào. Trong tiến trình đó, họ đã huy động được nhiều tầng lớp xã hội Nhật Bản, tập trung sức mạnh đấu tranh cho sự tồn vong của dân tộc, mau chóng thay đổi thể chế, hướng tới mô hình phát triển tiên tiến và biến những thành tựu của văn minh nhân loại thành nội lực và động lực phát triển.

Từ cách tiếp cận lịch sử, quyết định mở cửa đất nước, chủ động thiết lập mối quan hệ với các nước phương Tây của chính quyền Edo cho thấy rõ truyền thống tư duy của dân tộc Nhật Bản. Đó là một quyết định giàu khả năng phân tích, thể hiện tầm nhận thức của dân tộc Nhật Bản. Đó cũng là sự lựa chọn một con đường phát triển phù hợp và đem lại những lợi ích to lớn cho dân tộc. Thực tế cho thấy, trước những thách thức khắc nghiệt của lịch sử, quyết định mở cửa và canh tân đất nước đó của chính quyền Minh Trị là hoàn toàn có cơ sở thực tiễn. Mặc dù là một chính quyền non trẻ, phải đồng thời đối phó với nhiều vấn đề phức tạp trong nước và quốc tế nhưng với mẫn cảm chính trị, các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã biết phát huy sức mạnh tiềm tàng trong truyền thống văn hóa, đặc tính tâm lý cũng như những tiền đề kinh tế – xã hội đã được tạo dựng nên trong tiến trình lịch sử. Ý thức dân tộc mạnh mẽ đó đã giúp cho Nhật Bản bảo vệ được nền độc lập, chủ quyền của mình trước áp lực của các cường quốc phương Tây.

Cải cách Minh Trị là hệ quả của quá trình vận động và chuyển biến lâu dài trong xã hội Nhật Bản. Mặc dù những nhân tố quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy tiến trình cải cách nhưng những phát triển nội tại trong nước đã đóng vai trò quyết định dẫn đến sự phát triển sâu rộng của phong trào và đưa cuộc cải cách đến thành công. Trên thực tế, trong chính thể mới, vị thế của Thiên hoàng với tư cách là người nắm giữ toàn bộ quyền lực chính trị hay là người đứng đầu chính thể lập hiến đã là một chủ đề trọng yếu đặt ra đối với các nhà cải cách. Và, cuối cùng thì thể chế chính trị mang màu sắc quân chủ với vị thế cao, thiêng liêng của Thiên hoàng đã được thiết lập ở Nhật Bản.

5.4. Khi phân tích xu thế vận động của cải cách Minh Trị ở Nhật Bản, nhà sử học nổi tiếng người Mỹ GS. Edwin O. Reichauer cho rằng: “Cuộc cách mạng này đã không dấy lên từ dưới như các cuộc cách mạng trong thế kỷ XIX ở châu Âu. Nó đã được vạch ra một cách kỹ lưỡng từ bên trên và được áp đặt trên nhân dân bởi một nhóm người tương đối nhỏ nhưng cực kỳ năng động nắm quyền kiểm soát chính quyền(30). Tuy nhiên, nếu như có một cái nhìn toàn diện và khách quan về toàn bộ những nguyên nhân và tiến trình của phong trào cải cách thì sẽ thấy cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản là một quá trình vận động dân tộc trên tất cả các phương diện, lôi cuốn sự tham gia và tác động đến tất cả các đẳng cấp trong xã hội. Hiển nhiên, là đối tượng của lực lượng cải cách, cuộc cải cách đã tấn công trực diện vào chính thể phong kiến chuyên chế do Mạc phủ đứng đầu. Tất cả các đẳng cấp xã hội từ chỗ bất mãn với chế độ phong kiến đã từng bước liên kết thành một khối đông đảo để rồi đi đến lật đổ chế độ này. Do đó, khó có thể coi cải cách Minh Trị là một cuộc “Cải cách từ trên xuống”. Mặc dù Thiên hoàng Minh Trị và một số quý tộc đã có vai trò tích cực nhất định đối với sự thành công của cuộc cải cách nhưng rõ ràng là các tầng lớp xã hội bên dưới, đặc biệt là của giới võ sĩ trí thức mang tư tưởng tư sản tiến bộ là lực lượng then chốt thúc đẩy tiến trình cải cách và chuẩn bị những nội dung, bước đi cơ bản để đưa công cuộc cải cách đến thắng lợi.

Như vậy, khác với giới lãnh đạo Trung Hoa vẫn cố gắng duy trì quyền lực và truyền thống văn minh của một dân tộc trung tâm, thì trước những tác động của môi trường chính trị khu vực và quốc tế, bằng nhiều con đường và dạng thức khác nhau, Nhật Bản đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho công cuộc cải cách đất nước. Từ đó, trước những thách đố của lịch sử, một phong trào dân tộc đã hình thành. Hiển nhiên, phong trào đó diễn ra trong một phức hợp những diễn tiến tư tưởng và diễn tiến đó luôn trong thế giằng co, xung đột giữa việc bảo tồn những giá trị truyền thống với việc tiếp nhận và tiếp nhận ở một mức độ cao những giá trị mới. Trong rất nhiều trường hợp, đó là những giá trị hoàn toàn khác biệt với truyền thống và những định chế phương Đông. Việc đấu tranh rồi đi đến tiếp nhận những giá trị đó cho thấy sức sống và bản lĩnh của một dân tộc. Nhật Bản từng tiếp nhận văn minh Trung Hoa và biến nó thành một bộ phận văn hóa dân tộc. Đến thế kỷ XVI-XVII, tiếp tục du nhập một số ảnh hưởng của văn hóa phương Tây nhưng cũng không gây nên những xung đột văn hóa lớn. Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ XIX việc mở cửa với phương Tây đã mau chóng dẫn đến những biến động sâu sắc về xã hội. Nếu so sánh ta thấy, ở Trung Quốc giới lãnh đạo và trí thức Nho giáo bị bó khuôn trong một hệ thống những giáo lý mang tính kinh điển. Có thể coi đó là di sản đồ sộ của văn minh Trung Hoa nhưng trong thời đại mới những giá trị đó không còn là chuẩn mực và nguyên tắc bất di bất dịch. Trong khi đó, ở Nhật Bản họ không chỉ tiếp nhận giá trị Nho giáo, Phật giáo mà còn những giá trị văn hóa bản địa và tinh thần Shinto (Thần đạo). Chức năng quản lý xã hội, địa vị thiêng liêng đẳng cấp cùng khả năng tiếp nhận tri thức với năng lực phân tích và phê phán cao đã hun đúc nên những phẩm chất đặc biệt cho đẳng cấp này. Đứng trước những thách thức và bước ngoặt lịch sử, một bộ phận xuất thân từ đẳng cấp samurai đã tập hợp lại thành một lực lượng xã hội mạnh mẽ, nắm lấy ngọn cờ cải cách và đưa cuộc cải cách đến thành công.

5.5. Nghiên cứu tiến trình cải cách, chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò và đóng góp của một số han trên các lĩnh vực kinh tế, tư tưởng, mục tiêu và lực lượng (các nhóm chính trị, nhân vật lịch sử…) của từng han trong cuộc cải cách này. Đây là những vấn đề cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu hơn nữa để từ đó hiểu rõ hơn các bước phát triển của phong trào cải cách cũng như bản chất của nó. Chúng ta đều biết, trước cải cách Minh Trị lịch sử thế giới đã từng trải qua những cuộc cách mạng tư sản như: Cách mạng tư sản Hà Lan, Cách mạng tư sản Anh, Cách mạng tư sản Pháp… Các cuộc cách mạng đó tuy có những điểm khác nhau nhưng đều mang đặc tính chung về nền tảng kinh tế, vai trò lãnh đạo của giai cấp tư sản và quá trình giành bá quyền của giai cấp này được thể hiện bằng sự thiết lập các mô hình nhà nước tư bản chủ nghĩa. Do vậy, đặt trong mối tương quan và nghiên cứu so sánh chúng ta thấy không phải không có những cơ sở khi Michio Morishima cho rằng: “Trình độ về ý thức dân tộc của quần chúng vào cuối thời kỳ Tokugawa là vừa đủ để chấp nhận một thể chế quốc gia nhưng lại chưa đủ độ phát triển để họ dự tính và thực hiện một cuộc cách mạng với mục đích thống nhất dân tộc”.(31)

Trong quá trình phát triển của công cuộc cải cách, các tozama daimyo là những lãnh chúa đi đầu và đồng thời cũng là lực lượng chủ công lật đổ chế độ Mạc phủ. Mặc dù Choshu, Satsuma và một số lãnh chúa ngoại phiên khác không phải là những người đầu tiên khởi xướng nên phong trào cải cách nhưng khi cuộc cải cách diễn ra họ là lực lượng ủng hộ mạnh mẽ, kiên quyết nhất. Những mâu thuẫn không thể điều hòa với chính quyền Mạc phủ, tiềm lực kinh tế của các tozama daimyo, sức mạnh quân sự và đặc biệt là nhận thức về những hiểm họa đối với dân tộc trước sự đe dọa của phương Tây đã đẩy các han này lên vị trí lãnh đạo phong trào.

Nhưng cũng cần phải thấy rằng, sau khi chủ trương “Công vũ hợp thể” không còn hiệu quả nữa, một liên minh chính trị hai cực gồm Thiên hoàng và một số lãnh chúa lại xuất hiện. Nhưng, không phải bao giờ liên minh chính trị này và giữa các lãnh chúa đứng đầu các han có thế lực nhất cũng đạt được sự thống nhất. Trong liên minh giữa các han mỗi lực lượng đều theo đuổi những mục tiêu chính trị riêng và cũng đều muốn dựa vào uy thế Thiên hoàng để khuếch trương thế lực của mình. Vị thế thiêng liêng của Thiên hoàng được phát huy vừa có ý nghĩa là ngọn cờ tập hợp lực lượng, sức mạnh dân tộc vừa là trung gian điều hòa các xung đột chính trị và ở mức độ nào đó có thể tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị đất nước. Với vị thế đó, mặc dù quyền lực chính trị thực tế luôn nằm trong tay những thế lực cải cách từ các địa phương như: Sat-cho-to-hi… nhưng vai trò truyền thống của Thiên hoàng đã được phục hưng sau gần 700 năm giữ vị trí là biểu tượng cho tinh thần Nhật Bản. Và, thời đại mà một số người thường gọi là “Vương chính phục cổ” (Osei-fukko) đã được khởi đầu từ những chuyển biến và đặc tính lịch sử đó.

Để bảo vệ những đặc quyền và địa vị chính trị của mình, trước sức ép của các vấn đề trong nước cũng như áp lực của phương Tây, Mạc phủ Edo một mặt thi hành chính sách trấn áp các thế lực chống đối, đòi cải cách mặt khác tìm cách nhân nhượng với phương Tây. Đường lối đối nội và đối ngoại trên đây không những không giải quyết được những mâu thuẫn tồn tại mà còn từng bước đi ngược lại quyền lợi dân tộc. Chính sách đó của Mạc phủ cũng đã làm cho phần lớn đẳng cấp võ sĩ cảm thấy bị xúc phạm. Họ đã tự tụ họp lại thành những lực lượng yêu nước, sẵn sàng xả thân để bảo vệ chủ quyền dân tộc trong khi đó thì các daimyo và nhiều võ sĩ cao cấp khác vốn có lợi ích gắn liền với chế độ phong kiến vừa muốn có những thay đổi vừa muốn củng cố đặc quyền của mình. Thái độ chính trị đó của các han là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến hạn chế và làm chậm bước tiến của cuộc cải cách. Cuộc nổi dậy của các võ sĩ bảo thủ và hiếu chiến ở Satsuma do Saigo cầm đầu năm 1877 “là hơi thở cuối cùng của một xã hội đang hấp hối. Trong vòng không đầy mười năm các nhà cải cách trẻ tuổi đã bỏ hết các hệ thống chính trị và xã hội lỗi thời này và đã chuẩn bị xong nền móng cho những thể chế chính trị hiện đại hơn và hữu hiệu hơn.

Sau khi lãnh chúa han Mito là Nariaki qua đời, ngọn cờ cải cách thực chất là nằm trong tay 2 han Choshu và Satsuma. Trước hết đó là vì cả hai han đã phát huy được những sức mạnh về tinh thần, đạo đức, ý chí cũng như sự cố kết hết sức chặt chẽ trong truyền thống của đẳng cấp võ sĩ ở những địa phương có mức độ tập trung võ sĩ cao. Thêm vào đó, do ít gặp phải những khó khăn về kinh tế, mà cả hai han đã có thể tự bảo đảm đời sống cho đẳng cấp này đồng thời có khả năng tài chính để xây dựng lực lượng quân đội hiện đại với trang bị vũ khí của phương Tây. Thắng lợi của Choshu trước sự tấn công của liên quân Mạc phủ cũng như ưu thế trội vượt về vũ khí, hải quân của các lãnh chúa ngoại dạng đã góp phần đưa chế độ phong kiến Nhật Bản sớm đi đến sụp đổ. Những kinh nghiệm chỉ huy quân đội, tổ chức, quản lý mà các nhà cải cách đã từng trải qua trong việc duy trì sự ổn định, phát triển ở các địa phương đã để lại những kinh nghiệm quý báu cho phong trào cải cách.

Tuy vậy, cũng không thể dễ dàng khi đưa ra nhận định rằng cải cách Minh Trị là do các samurai cấp tiến hay một bộ phận samurai tư sản hóa lãnh đạo. Có thể thấy, tất cả những người lãnh đạo phong trào cải cách đều xuất thân từ đẳng cấp võ sĩ nhưng, như đã phân tích ở trên, đây không phải là một đẳng cấp thuần nhất. Ngoài một số người có điều kiện sang châu Âu học tập, trực tiếp chứng kiến sức mạnh của nền văn minh phương Tây, số còn lại đều trưởng thành bằng con đường tự rèn luyện, học tập trong nước và từ đó họ đã tìm thấy đường đi cho dân tộc mặc dù thành phần xuất thân cũng như địa vị kinh tế vẫn gắn bó chặt chẽ với xã hội phong kiến. Khi phong trào cải cách diễn ra, trước yêu cầu của lịch sử, lại đã từng trải qua những thất bại cay đắng trong các trận đọ sức với phương Tây, đẳng cấp samurai mà điển hình là giới võ sĩ trí thức từ các tozama daimyo đã dũng cảm đảm đương trách nhiệm trước dân tộc.

Nhưng là đẳng cấp võ sĩ, có tri thức và ý thức về truyền thống và những giá trị văn hóa dân tộc, họ nhận thấy chưa thể đủ sức trở thành trung tâm của phong trào dân tộc, họ đã tôn vinh Thiên hoàng và dựa vào Thiên hoàng để thực hiện các tư tưởng và chính sách cải cách của mình. Mặt khác, thông qua phong trào cải cách đó, Thiên hoàng và Hoàng gia cũng nhận thấy địa vị truyền thống của mình được phục hưng. Hơn thế nữa, Thiên hoàng trở thành trung tâm của phong trào dân tộc và thực sự có thể nắm giữ quyền lực lãnh đạo, chấn hưng đất nước. Họ đã từng bước thay đổi nhận thức cũng như quan điểm của mình để đấu tranh cho một nước Nhật Bản cường thịnh. Có thể cho rằng, cải cách Minh Trị trước hết là một phong trào dân tộc, vì chủ quyền dân tộc mặc dù hệ quả cuối cùng của cuộc đấu tranh đó đã dẫn đến việc một nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tiên được thiết lập ở châu Á.

5.6. Cùng với những nhân tố nêu trên, cải cách Minh Trị còn chịu tác động mạnh mẽ của những tác động quốc tế. Những nhân tố đó không chỉ thúc đẩy tiến trình cải cách mà còn tạo nên động lực mạnh mẽ cho phong trào này. Từ thực tiễn lịch sử chúng ta thấy, cũng như hầu hết các dân tộc phương Đông khác, vào thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản chuyển nhanh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Nhật Bản cũng trở thành mục tiêu xâm lược của các cường quốc Âu-Mỹ. Là một quốc đảo, Nhật Bản càng trở nên quan trọng vì nó chiếm giữ một vị thế chiến lược trong các tuyến giao thương quốc tế của khu vực Đông Bắc Á. Hơn thế nữa, một số nước phương Tây đặc biệt là Mỹ luôn coi Nhật Bản là cầu nối và cứ điểm thiết yếu để từ đó tiến vào thị trường Trung Hoa giàu tiềm năng và rộng lớn.

Dựa vào sức mạnh kinh tế và quân sự hùng hậu, bằng nhiều biện pháp và cách thức khác nhau, trong thế cạnh tranh vô cùng quyết liệt chủ nghĩa tư bản mở rộng các cuộc chiến tranh xâm lược đến các dân tộc châu Á. Cả thế giới chuyển mình và bị cuốn vào cơn lốc của chủ nghĩa tư bản. Trong vòng xoáy đó của thời đại, “Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục. Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; Nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản. Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình ảnh của nó… bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây”.

Để bảo đảm nguồn cung cấp nguyên liệu phong phú và thị trường tiêu thụ sản phẩm, các nước tư bản ra sức chiếm đoạt các bến cảng và tuyến giao thông quốc tế quan trọng, chiếm đoạt các nguồn tài nguyên tự nhiên và sức lao động của nhân dân các dân tộc thuộc địa. Như vậy, cuộc đấu tranh giữa các nước tư bản để giành giật thuộc địa, để chiếm đoạt tài nguyên và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa… đã dẫn đến làn sóng thực dân thứ hai xuất hiện trên thế giới. “Chính trong sự bành trướng này của các quốc gia tư bản chủ nghĩa trên quy mô thế giới đã phát triển những cơ kịch phát thực dân hóa khác nhau của các quốc gia trong thời kỳ này”(35). Hệ quả nghiêm trọng nhất có thể thấy được là giữa các nước tư bản lớn thường xuyên diễn ra các cuộc tranh chấp, xung đột và chiến tranh. Bên cạnh đó, bằng những con đường và cách thức khác nhau, cuộc đấu tranh của các dân tộc lệ thuộc chống lại ách đô hộ, nô dịch của thực dân vẫn luôn bền bỉ diễn ra ở các nước thuộc địa. Song, cùng với những nguyên nhân khác thì việc các cường quốc tư bản có thể chiếm đoạt những thị trường rộng lớn là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến sự phát triển mau chóng của các nước thực dân. Đồng thời, trong cuộc cạnh tranh quốc tế gay gắt, sự cân bằng chiến lược và vị thế kinh tế, chính trị của các nước cũng có sự thay đổi. Từ năm 1875 đến 1913, bất chấp chủ nghĩa bảo hộ của các nước, xuất khẩu của Đức tăng gấp 4 lần, Mỹ tăng 5 lần trong khi đó xuất khẩu của Anh chỉ tăng 2,2 lần và Pháp là 1,8 lần. Năm 1871 và cả năm 1880, Anh sản xuất than nhiều hơn cả Hoa Kỳ và Đức cộng lại nhưng năm 1913 mức sản xuất của hai nước chỉ bằng gần nửa Hoa Kỳ. Về thép, Anh cũng nhanh chóng bị Hoa Kỳ và Đức vượt qua từ năm 1900.

Nhận thức rõ xu thế phát triển đó của thời đại, đặc biệt là ưu thế ngày càng trội vượt của Mỹ, vì lợi ích dân tộc, chủ quyền và nền độc lập của dân tộc, từ thực tế lịch sử, ở Nhật Bản các nhà lãnh đạo phong trào cải cách đã cương quyết đoạn tuyệt với mô hình Trung Hoa truyền thống để hướng mạnh đến phương Tây học tập và làm theo phương Tây(37). Trong bối cảnh và xu thế thời đại lúc bấy giờ thì mục tiêu chiến lược: “Học tập phương Tây, đuổi kịp và vượt phương Tây” trở thành sự lựa chọn duy nhất đúng và tất yếu. Trên thực tế, mục tiêu đó không chỉ là phương châm hành động mà còn là sự tự khẳng định, vạch rõ bước đi cho dân tộc. Điều đáng chú ý là, vào thế kỷ XIX, Nhật Bản là một trong số ít quốc gia trên thế giới có thể vượt qua những thách thức khắc nghiệt của lịch sử, bảo vệ được chủ quyền và những lợi ích căn bản của dân tộc. Trong bối cảnh hầu hết các dân tộc trên thế giới đều bị phương Tây xâm lược, đô hộ. Việc Nhật Bản kịp nhận ra quy luật và xu thế phát triển của lịch sử, sớm tiến hành công cuộc cải cách và cải cách thành công đã giúp cho đất nước này thoát khỏi “định mệnh” của một dân tộc bị biến thành nô lệ. Hơn thế nữa, dựa vào tiềm lực kinh tế và những ưu thế vượt trội về kỹ thuật, công nghệ, quân sự… chủ nghĩa thực dân phương Tây, đi theo con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây, lại “sinh sau đẻ muộn”, muốn tự khẳng định mình trên trường quốc tế, Nhật Bản đã sớm lao vào con đường đế quốc chủ nghĩa và thực sự đã trở thành đế quốc đầu tiên trong khu vực.

5.7. Trong các cuộc cải cách ở châu Á giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cải cách Minh Trị được coi là một sự kiện trọng đại không chỉ đối với lịch sử Nhật Bản mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các dân tộc trong khu vực và thế giới. Cải cách Minh Trị là một phong trào tiên phong, một loại hình đặc thù của phong trào cải cách mang tính chất của một cuộc Cách mạng dân chủ tư sản điển hình của châu Á. Cuộc cải cách đã khơi dậy và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thức tỉnh và trào lưu canh tân đất nước của nhiều dân tộc ở châu Á. Vì tính chất mở đầu và vạch đường của nó, ngay cả khi phong trào cải cách vẫn đang diễn ra sôi nổi ở Nhật Bản, cuộc cải cách đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều dân tộc phương Đông. Nhiều lực lượng xã hội trong các quốc gia châu Á đã coi phong trào cải cách ở Nhật Bản là biểu tượng cho một mô hình phát triển mới, là cách thức hữu hiệu để tập hợp lực lượng yêu nước và thức tỉnh dân tộc. Họ ngưỡng vọng, tin theo và muốn lựa chọn một con đường đi tương tự như Nhật Bản để xóa bỏ gông xiềng của chủ nghĩa thực dân, giành lại nền độc lập cho dân tộc tiến tới chấn hưng đất nước, xây dựng một đất nước tự chủ, tự cường.

Cải cách Minh Trị đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các phong trào cải cách và đấu tranh của các dân tộc châu Á. Đối với nhiều quốc gia trong khu vực thì sự phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản trong việc xây dựng một mô hình nhà nước mới, mau chóng xóa bỏ những trì trệ, lạc hậu của xã hội phong kiến, tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa có một sức cổ vũ kỳ diệu. Tinh thần đó lại càng được khích lệ bởi thắng lợi của Nhật Bản trong hai cuộc chiến tranh Nhật – Thanh và đặc biệt là chiến tranh Nhật – Nga đã tạo nên niềm tin mãnh liệt và nuôi dưỡng khát vọng chiến thắng của nhiều dân tộc. Họ coi đó là niềm tự hào vì lần đầu tiên trong lịch sử đã có một dân tộc châu Á dám đương đầu và giành được thắng lợi trước một cường quốc phương Tây.

Sau các cuộc chiến tranh, cùng với sự nghiệp canh tân đất nước, trong quan hệ bang giao quốc tế, vị thế của Nhật Bản cũng được cải thiện đáng kể. Theo Fukuzawa, thì từ đó phương Tây đã không “nhầm lẫn” coi Nhật Bản là “một nước bình thường ở châu Á” có thể bị phương Tây đe dọa như Trung Quốc. Với các thắng lợi đó, Nhật Bản đã bảo vệ được vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền và an ninh đất nước đồng thời lần lượt buộc các nước phương Tây phải từng bước xác lập quan hệ bình đẳng với Nhật Bản. Năm 1899, Nhật Bản đã trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á thoát khỏi những nguyên tắc áp đặt về đặc quyền ngoại địa. Các nước phương Tây cũng đã lần lượt bãi bỏ những hành vi can thiệp nghiêm trọng đến chủ quyền của Nhật Bản thể hiện trong các bản hiệp ước mà Mạc phủ Edo đã ký kết trước đây. Tuy nhiên, đến năm 1911, Nhật Bản đã giành lại được quyền kiểm soát thuế quan cũng như các quyền dân tộc cơ bản.

Trước những thành công vang dội của cải cách Minh Trị, các nhà cải cách lớn của Trung Quốc như Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi đã chủ trường học tập con đường của Nhật Bản để tiến hành phong trào duy tân ở Trung Quốc. Cải cách Minh Trị còn tác động sâu sắc đến nhiều quốc gia khác như Thái Lan, Philippines, Triều Tiên, Ấn Độ và Việt Nam. Mặc dù diễn ra gần như trong cùng một thời gian và có nhiều điểm tương đồng nhưng phong trào cải cách ở Thái Lan do Mongkut (tức vua Rama IV, 1851-1868) lãnh đạo đã tiếp nhận nhiều ảnh hưởng từ cuộc cải cách Minh Trị. Cuộc cải cách đã tạo nên cho người Thái thêm niềm tin và sức mạnh trong công cuộc đấu tranh để duy trì nền độc lập trước áp lực của các cường quốc Anh, Pháp. Cải cách Minh Trị cũng góp phần cổ vũ cho cuộc đấu tranh của nhân dân Philippines chống lại thực dân Tây Ban Nha và Mỹ. Là một thuộc địa của Anh, trước những thành công của Nhật Bản, nhiều trí thức yêu nước Ấn Độ đã sang Nhật Bản hoạt động và học tập. Là những dân tộc “đồng văn, đồng chủ

ng” và “đồng bệnh” năm 1908, Phan Bội Châu, người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Đông Du của Việt Nam, đã cùng một số chí sĩ yêu nước, cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Triều Tiên v.v… lập ra “Đông Á Đồng minh hội”“Điền Việt Quế liên minh hội” để tạo nên mối liên hệ mật thiết và tình đoàn kết giữa các nhà yêu nước châu Á. Và cũng từ đó, “Chủ nghĩa liên Á” (còn gọi là Chủ nghĩa Á tế Á, Pan-Asianism) vốn được hun đúc từ cuối thế kỷ XIX cũng đã xuất hiện.

Từ những thành công của Nhật Bản, các nhà yêu nước và cải cách trong khu vực cho rằng nếu như có tinh thần đoàn kết và quyết tâm canh tân đất nước theo con đường mà người Nhật đã đi thì có thể đưa dân tộc thoát khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân và trở thành một dân tộc tự cường. Do chưa hiểu rõ bản chất của thể chế chính trị Nhật Bản, nhiều lực lượng yêu nước và cấp tiến châu Á đã hướng về Nhật Bản, tôn vinh Nhật Bản và muốn học tập, dựa vào Nhật Bản để chấn hưng đất nước, đánh đuổi thực dân. Trong bối cảnh đó, ở Việt Nam đã hình thành một phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo. Nhìn nhận phong trào trong dòng chảy của các trào lưu yêu nước Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ta thấy: “Phong trào Đông Du xuất dương cầu học là một hành động có tính chất “đột phá”, mở cửa hướng ra ngoài để học hỏi, tiếp nhận những cái mới cho phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam. Rõ ràng, đối với những người sĩ phu “tân tiến” đầu thế kỷ XX, trước những biến đổi của Việt Nam về các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục do chính sách thuộc địa gây ra, họ đã nhận thấy rằng bạo động cứu nước theo con đường Cần Vương đã phá sản, giờ đây cần đi theo con đường cứu nước mới, cần phải duy tân đất nước, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”(41). Tuy cuối cùng đã thất bại nhưng với tư tưởng “vọng ngoại”, mở rộng tầm nhìn ra thế giới, học tập thế giới để “duy tân”, “tự cường” phong trào đã có nhiều ảnh hưởng to lớn đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm và ý nghĩa sâu sắc cho sự lựa chọn con đường cách mạng và cuộc đấu tranh anh dũng nhằm mục tiêu giải phóng đất nước của dân tộc ta.

Nếu như quan niệm lịch sử của mỗi dân tộc đều trải quan những biến thiên, thăng trầm và bước ngoặt thì cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản có thể coi là một bước ngoặt lớn, có ý nghĩa trọng đại. Cách nhìn nhận đó xuất phát từ quan điểm nghiên cứu so sánh giữa lịch sử với các dân tộc khác ở châu Á và giữa phương Đông với phương Tây. Nhật Bản tiến hành công cuộc cải cách, hiện đại hóa đất nước nhưng vẫn kế thừa, bảo tồn và phát huy triệt để những giá trị văn hóa truyền thống. Nền tảng văn hóa truyền thống đã đem lại cho họ niềm tin, sức mạnh và góp phần định thành ý thức dân tộc mạnh mẽ. Với tinh thần và quyết tâm đó, “Người Nhật mong muốn duy trì nền văn hóa của mình, lối sống của mình, mối quan hệ đặc thù giữa cấp trên và cấp dưới và cấu trúc gia đình của mình nhưng đồng thời cũng muốn xây dựng một quốc gia hiện đại với một sức mạnh sánh ngang với sức mạnh của các nước phương Tây. Niềm mong ước này đã tồn tại trong suốt thế kỷ XX hay hơn thế.

Và phương châm “Công nghệ phương Tây, tinh thần Nhật Bản”, luôn kết hợp, gắn bó hài hòa giữa phát triển và bảo tồn văn hóa, giữa hiện đại hóa và bảo tồn những giá trị truyền thống, duy trì những mạch nguồn văn hóa, tinh thần dân tộc để biến chúng thành nền tảng và sức mạnh vật chất cũng là một kinh nghiệm của Nhật Bản đối với nhiều dân tộc trong đó có Việt Nam trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Đánh giá post

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s