Hy Lạp Cổ Đại

Bốn hoàng đế Byzantine vĩ đại

Hơn một thiên niên kỷ ngồi trên ngai vàng ở Constantinople, các Hoàng đế Byzantine, những kẻ thừa kế Đế chế La Mã hùng mạnh khi xưa

Hơn một thiên niên kỷ ngồi trên ngai vàng ở Constantinople, các Hoàng đế Byzantine, những kẻ thừa kế Đế chế La Mã hùng mạnh khi xưa

Hơn một thiên niên kỷ ngồi trên ngai vàng ở Constantinople, các Hoàng đế Byzantine, những kẻ thừa kế Đế chế La Mã hùng mạnh khi xưa, cai trị một trong những đế chế hùng mạnh nhứt trong lịch sử.

Hoàng đế Byzantine chiếm một vị trí đặc biệt trong số những người cai trị Châu Âu thời Trung Cổ. Họ là người đứng đầu bộ máy chánh phủ, là tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia. Tuy nhiên, Hoàng đế không phải là một kẻ cai trị bình thường, mà là Đại diện của Chúa trên Trái Đất, một vị vua vô cùng ngoan đạo có nhiệm vụ bảo vệ và truyền bá Cơ Đốc Chánh Thống giáo. Do đó, các quyết định của Hoàng đế không chỉ ảnh hưởng bên trong mà còn vượt xa ra khỏi biên giới của Đế chế.

Họ cũng là người thừa kế của Hoàng đế La Mã đầu tiên, Augustus. Trên thực tế, “Byzantine” là thuật ngữ tương đối hiện đại, được phát minh vào thế kỷ 16 khi Đế chế không còn nữa. Trong suốt quá trình tồn tại, người Byzantine tự gọi mình là “Rhomaoi”, có nghĩa là người La Mã, gọi Đế chế của họ là “Basilea ton Rhomaion” hay Đế chế của người La Mã. Trong lịch sử lâu dài của mình, nhiều người đã ngồi lên ngai vàng ở Constantinople. Tuy nhiên, chỉ một số ít đạt được sự vĩ đại, định hình lại Đế chế và để lại dấu ấn trong lịch sử.

1/. Justinian – tái chiếm phương tây

Justinian I, còn được gọi là Justinian Đại đế, có lẽ là vị Hoàng đế quan trọng nhứt của Byzantine. Justinian ra đời ở Tauresium (gần thành phố Skopje, Macedonia ngày nay) vào khoảng năm 482, chỉ vài năm sau khi thành Rome sụp đổ. Quá trình thăng tiến nhanh chóng của Justinian được hỗ trợ rất nhiều bởi người chú Justin, một chỉ huy quân sự xuất sắc và là cận vệ Hoàng gia, người trở thành Hoàng đế vào năm 518. Ông nhanh chóng thăng Justinian lên các vị trí quan trọng, chuẩn bị cho việc nhường ngôi. Năm 527, Justin I nhận cháu trai của mình làm con nuôi đồng thời phong Justinian làm đồng Hoàng đế.  Trong vòng 4 tháng, Justin qua đời và Justinian I trở thành người cai trị duy nhứt của Đế chế La Mã.

Nhưng thực tế thì không phải vậy. Trong khi Justinian là tiếng nói cuối cùng về các vấn đề của Đế chế, thì Hoàng hậu Theodora cai trị gần như ngang hàng với chồng mình. Trên thực tế, Theodora là cố vấn thân cận nhứt của Justinian, hơn một lần chính bà là người chỉ đạo đường lối của Đế chế — và có lẽ còn cứu mạng chồng bà. Trong Loạn Nika khét tiếng năm 532, Theodora là người đã ngăn cản Justinian chạy trốn bỏ thủ phủ cùng ngai vàng lại. Bà cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình chánh sách tôn giáo, giúp chồng hợp nhứt 2 phe đối lập lại với nhau đồng thời củng cố đoàn kết tôn giáo, một trong các trụ cột chính của một nhà nước Cơ Đốc giáo hùng mạnh.

Để củng cố sức mạnh của Đế chế, Justinian đã tài trợ cho việc cải tiến bộ luật La Mã cũ, bạn hành một bộ luật mới áp dụng cho Đế chế, được gọi là “Pháp Điển Dân Sự” (Corpus Juris Civilis). Sau cuộc loạn lạc làm hư hại phần lớn thủ phủ, Justinian tận dụng cơ hội bắt tay vào một chương trình xây dựng đầy tham vọng ở Constantinople. Tượng đài nổi tiếng nhứt của ông chắc chắn là Vương cung Thánh đường Hagia Sophia, một nhà thờ lớn của Hoàng gia, và cho tới tận thời Phục hưng, là tòa nhà mái vòm lớn nhứt trên thế giới.

Thành tích đỉnh cao của Justinian là công cuộc tái chinh phục Tây La Mã. Sau khi làm hòa với đối thủ truyền kiếp là Ba Tư, Justinian cử vị tướng tài ba nhứt của mình là Belisarius thực hiện một chiến dịch đầy tham vọng nhằm khôi phục lại các lãnh thổ đã mất của Đế chế. Tuy nhiên, công cuộc tái chinh phục Châu Phi đang nằm dưới tay người Vandal lại biến thành một cuộc chiến kéo dài tàn phá Italia. Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn sau khi bùng phát bệnh dịch hạch (thường được gọi là Dịch Justinian), làm suy yếu quân đội và nền kinh tế. Cuối cùng thì, lực lượng quân đội của Đế chế vẫn dành được chiến thắng, khôi phục quyền kiểm soát Italia vào năm 562. Hoàng đế ở Constantinople một lần nữa kiểm soát toàn bộ Địa Trung Hải, từ Tây Ban Nha cho tới Syria, từ Bắc Italia cho tới Ai Cập.

Justinian đã nỗ lực để hiện thực hóa kế hoạch của mình và khôi phục lại vinh quang cho Đế chế, nhưng với cái giá phải trả quá đắt. Khi qua đời vào năm 565, ông để lại cho những người kế vị một Đế chế đang quá tải và nghèo khó, bị kẻ thù bao vây, chực chờ tấn công.

2/. Heraclius – vinh quang và bi kịch

Năm 610, khi Heraclius lên ngôi Hoàng đế, Đế chế Byzantine đang đấu tranh cho sự sống còn của mình. Quân đội Sassanid vượt qua biên giới phía Đông và tiến vào lãnh thổ. Ở phía Tây, người Lombard đang tràn vào Italia. Ngay cả thủ phủ Constantinople cũng đang bị đe dọa. Biên giới Sông Danube thất thủ, khiến các tộc người Avar và Slav nắm quyền kiểm soát vùng Balkan. Đế chế đang rất cần một anh hùng. May mắn thay, Heraclius là người phù hợp với công việc đó.

Sau khi hành quyết Phocas, người tiền nhiệm bất tài và là kẻ đã bày ra toàn bộ mớ hỗn độn, Heraclius bắt đầu củng cố các nguồn tài nguyên ít ỏi còn lại mà mình có. Với sự hậu thuẫn từ phe ái quốc ở Constantinople, Hoàng đế đã cho nấu chảy toàn bộ tài sản của cải của Giáo hội, gây quỹ để tiếp tục tiến hành chiến tranh. Nhưng, dù đã cố gắng hết sức, Heraclius vẫn không thể ngăn chặn được kẻ thù. Trong những thập kỷ sau đó, người Ba Tư chinh phục tất cả các thuộc địa ở phía Đông, bao gồm cả Ai Cập. Sau đó, năm 626, chính Constantinople bị bao vây, với một bên là người Ba Tư, bên kia là người Avar và người Slav. Tuy nhiên Heraclius lại không nằm trong số những người thủ thành.

Vận mệnh của thủ phủ và cả Đế chế đang treo trên sợi chỉ mành, nhưng Hoàng đế và phần lớn quân đội Hoàng gia lại đang ở cách xa hàng ngàn dặm, chiến đấu trên sân nhà Ba Tư. Không phải như cách Hoàng đế Aurelian nắm chặt vận mệnh của vương quốc trong tay mình. Heraclius đang chơi đánh cược. Constantinople sống sót nhờ vào các bức tường thành bất khả xâm phạm và lực lượng hải quân hùng mạnh. Một năm sau, vào năm 627, Heraclius đánh bại quân đội Ba Tư tại Trận Nineveh. Đối mặt với một kẻ thù mạnh mẽ ngay tại chính sân nhà, người Sassanid lại không thể có được chiến thắng, đành phải muối mặt mà hòa hoãn. Sau 400 năm chiến tranh đối đầu, người La Mã đã hoàn toàn đánh bại được đối thủ lớn nhứt của mình. Để hoàn tất chiến thắng, vào năm 629, Heraclius mang trả lại thánh tích Chân Thập Tự cho Jerusalem trong một buổi lễ hùng vĩ.

Tuy nhiên, chiến thắng của Heraclius nhanh chóng biến thành bi kịch. Cuộc hôn nhân với đứa cháu gái khiến Giáo hội tức giận, trong khi nỗ lực hàn gắn ly giáo đều khiến cả 2 phe xa lánh. Tuy nhiên, thất bại ở quê nhà không thể so sánh được với tai họa đang rình rập ở phương Đông – sự xuất hiện của quân đội Ả Rập.

Trong khi Đế chế đánh bại được người Ba Tư và xoay sở để tồn tại, thì thất bại tại Yarmouk năm 636 đã dẫn tới sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống phòng thủ ở phía Đông. Heraclius chỉ có thể bất lực nhìn những vùng lãnh thổ mà ông đã chiến đấu hết mình để bảo vệ sụp đổ như quân cờ domino trước quân xâm lược Ả Rập. 5 năm sau Yarmouk, Syria bị mất cùng với hầu hết lãnh thổ Ai Cập. Do sức khỏe yếu, Heraclius qua đời vào năm 641, để lại ngai vàng cho các con trai.

Heraclius dẫn dắt một Đế chế đang lâm nguy tiến tới một trong các vinh quang vĩ đại nhứt của nó, nhưng cũng chỉ để chứng kiến ​​nó trở thành một thảm kịch. Tuy nhiên, các cải cách của Heraclius cùng với việc tái cơ cấu quân đội đã mang lại cho những người kế vị ông cơ hội chinh chiến, và Đế chế Byzantine, tuy dần chuyển đổi thành một quốc gia nhỏ hơn thời Trung Cổ nhưng vẫn hùng mạnh.

3/. Basil II – Một Byzantine trung cổ đỉnh cao

Ra đời vào năm 958, Basil II là thành viên của nhà Macedonia nổi tiếng, gia tộc phục hồi vận mệnh của Đế chế, biến Byzantine trở thành quốc gia quyền lực nhứt ở Địa Trung Hải. Được mệnh danh là “porphyrogennetos” (có nghĩa là sanh ra với màu tím, Tử khí Đông lai), tuy nhiên, Basil phải đợi một thời gian mới được lên ngôi. Basil chỉ mới 5 tuổi khi phụ thân qua đời. Do đó, ngai vàng do các tướng lãnh Nikephoros II Phokas và John I Tzimisces tạm thời chấp chánh. Cuối cùng, vào năm 976, Basil trở thành Hoàng đế Byzantine. Hơn 50 năm trị vì, Basil không ngừng phát động chiến tranh chống lại kẻ thù của Đế chế, trở thành một chiến thần thực thụ.

Đầu tiên, tân Hoàng đế phải đối mặt với một cuộc nổi loạn do các nhà lãnh đạo quân sự có ảnh hưởng như Bardas Skleros và Bardas Phokas dẫn đầu. Basil nghiền nát cuộc nổi dậy với sự giúp đỡ từ 6000 lính người Rus, những chiến binh ưu tú, lực lượng nồng cốt của Vệ binh Varangian nổi tiếng. Sau đó, lực lượng Hoàng gia hành quân về phía Đông để đối đầu với nhà Fatimid. Sau nhiều thất bại, Basil quyết định thân chinh vào năm 995 và xoay chuyển tình thế với nhiều chiến thắng, mở rộng quyền kiểm soát của Đế chế vào Syria và vùng Lưỡng Hà.

Tuy nhiên, thành tựu quân sự quan trọng nhứt của Basil chính là khuất phục hoàn toàn Đế chế Bulgar hùng mạnh. Trong nhiều thập kỷ, Basil đã chiến đấu trong một cuộc chiến hao tiền tốn của chống lại kẻ thù cứng đầu này. Cuối cùng, sau khi hòa bình với nhà Fatimid vào năm 1000, Basil tăng cường gấp đôi lực lượng và xóa sổ Đế chế Bulgar khỏi bản đồ. Năm 1014, quân đội Hoàng gia dành được chiến thắng quyết định trong Trận Kleidon. Lần đầu tiên kể từ thế kỷ 7, biên giới Sông Danube nằm dưới sự kiểm soát của Đế chế, cùng với đó là toàn bộ Bán đảo Balkan.

Chiến thắng tại Kleidon đã mang lại cho Basil II biệt danh khét tiếng “Boulgaroktonos” (Kẻ diệt dân Bulgar). Theo các sử gia Byzantine, Basil cho tra tấn các tù binh chiến tranh. Cứ 100 tù thì 99 người bị chọc mù mắt, chỉ chừa lại một người chỉ bị chọc mù một bên mắt để họ có thể tìm đường về báo cáo với người cai trị Bulgar, Sa hoàng Samuil. Khi nhìn thấy những người lính bị tra tấn, kẻ cai trị Bulgar tức hộc máu chết ngay tại chỗ. Mặc dù câu chuyện thú vị này có thể chỉ là huyền sử, được các sử gia Byzantine phát minh ra để tuyên truyền cho sức mạnh của Đế chế, tôn vinh chiến tích của Basil nhằm mục đích che lấp điểm yếu của những kẻ kế vị ông.

Dưới thời trị vì của ông, Đế chế Byzantine thời Trung Cổ đã đạt tới đỉnh cao vinh quang. Basil II ổn định và mở rộng biên giới, xóa tên một Bulgar rắc rối khỏi bản đồ và khôi phục lại biên giới Sông Danube. Nhưng thực không may, ông không có người thừa kế. Sau khi Basil qua đời vào năm 1025, thành tích của ông nhanh chóng bị chôn vùi bởi những kẻ kế vị yếu kém và bất tài.

4/. Alexios I Komnenos – Sáng lập vương triều hùng mạnh

Đế chế Byzantine giống như một con phượng hoàng. Mỗi khi nó đứng trước bờ vực sụp đổ, một anh hùng sẽ xuất hiện, đánh bại kẻ thù và xây dựng lại Đế chế từ đống tro tàn. Alexios I Komnenos (còn được viết là Alexius Comnenus) là một trong các Hoàng đế như vậy. Ra đời vào năm 1057 trong một gia đình địa chủ giàu có, Alexios đã dành cả tuổi trẻ trong quân đội, là nhân chứng cho cuộc khủng hoảng của Đế chế. Ông đã quan sát cách những kẻ kế vị Basil II đã hủy hoại sự thạnh vượng và sức mạnh quân sự của Đế chế, cho phép kẻ thù tiến sâu vào lãnh thổ Byzantine mà không có cách gì ngăn cản. Năm 1081, Alexios chiếm lấy ngai vàng từ tay người tiền nhiệm bất tài và bắt tay vào sứ mệnh cứu Đế chế khỏi hủy diệt. Trong quá trình này, Alexios thành lập vương triều vĩ đại cuối cùng — nhà Komnenian.

Nói Alexios phải đối mặt với một thử thách khó khăn là đã nói giảm nói tránh đi rất nhiều. Cho tới năm 1081, Đế chế gần như bị bao vây hoàn toàn. Trái tim ở Tiểu Á bị mất vào tay người Thổ Seljuk. Ở phía Tây, người Norman đuổi người Byzantine ra khỏi Sicily và miền Nam Italia đồng thời đe dọa các lãnh thổ của Đế chế ở Balkan và Hy Lạp. Không có gì đáng ngạc nhiên, cuộc phản công ban đầu của Alexios đã thất bại. Năm 1081, lực lượng Norman dưới sự lãnh đạo của Robert Guiscard đã giáng một đòn nặng nề vào quân đội Hoàng gia trong Trận Dyracchium. Hoàng đế, tuy nhiên, vẫn không bỏ cuộc. Alexios ký một thỏa thuận với Hoàng đế La Mã Thần thánh là Henry IV, trong đó lực lượng Byzantine và người German thống nhứt sẽ đánh bại người Norman. Alexios cũng khôi phục lại biên giới Sông Danube bằng cách đánh bại người Pecheneg.

Với việc Bán đảo Balkan được bảo đảm, Alexios có thể tập trung vào việc phục hồi những vùng lãnh thổ quan trọng ở Tiểu Á bị người Thổ Seljuk chiếm giữ. Biết rằng lực lượng của mình là chưa đủ, Hoàng đế kêu gọi phương Tây giúp đỡ. Alexios mong đợi một số đội ngũ Hiệp sỹ ưu tú. Nhưng Đức Giáo tông đã lên kêu gọi một cuộc thập tự chinh để giải phóng Đất Thánh. Alexios tận dụng tối đa tình huống này, dành lại một số vùng lãnh thổ bị mất với sự giúp đỡ của Thập Tự quân, bao gồm Nicaea và phần lớn Duyên hải Tiểu Á. Hoàng đế tiếp tục chiến tranh với người Seljuk cho tới khi ông qua đời vào năm 1118. Alexios I Komnenos đã để lại một Đế chế mạnh mẽ, kho bạc đầy đủ và một đội quân đáng gờm.

Các Hoàng đế thuộc nhà Komnenian tiếp tục củng cố quyền lực, duy trì thời kỳ Hoàng kim cuối cùng của Đế chế Byzantine, được gọi là kỷ “Phục Hưng của nhà Komnenian”. John II lẫn Manuel I Komnenos đều mở rộng biên giới, dành lại các lãnh thổ ở phía Đông và phía Tây.  Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ lại tận dụng quá mức các nguồn lực còn hạn chế. Ngoài ra, việc thiếu những người cai trị có năng lực sau cái chết của Manuel đã dẫn tới sự suy tàn dần dần của Đế chế. Andronikos I Komnenos, người lên ngôi sau khi sát hại cháu trai Alexios II, đã chọc giận phương Tây sau khi ra lệnh tàn sát cư dân Latin ở Constantinople. Vị hoàng đế không được lòng dân, Andronikos đã phải chịu đựng một kết cục khủng khiếp, bị xé xác bởi đám đông giận dữ trên đường phố Constantinople.

Cái chết của Andronikos vào năm 1185 đã đặt dấu chấm hết đột ngột cho nhà Komnenian. 15 năm sau, di sản một thời của Alexios I Komnenos tan thành từng mảnh sau khi bị đội quân của cuộc Thập Tự Chinh thứ 4 chinh phục đồng thời cướp phá Constantinople vào năm 1204. Kể từ đó trở đi, Đế chế chỉ còn là cái bóng của chính nó trước đây, chờ đợi cái chết từ từ kéo tới. Tuy nhiên, trong khi Constantinople thất thủ vào năm 1453, và vị Hoàng đế Byzantine cuối cùng là Constantine XI tử trận trong trận chiến, thì di sản Byzantine (và rộng hơn là di sản của Đế chế La Mã) tồn tại lâu hơn, ảnh hưởng tới nghệ thuật, văn hóa và tôn giáo của toàn Châu Âu./.

5/5 - (1 vote)

KHÁM PHÁ


Ảnh Việt Nam Xưa

  • Một gia đình người Việt giầu có vào năm 1870 (ảnh đã được phục chế màu)
  • Những nhạc công người Việt đang biểu diễn - Sài Gòn 1866
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một ngôi miếu ở làng quê Bắc bộ từ những năm 1910s
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Lễ hội Phủ Dầy - Nam Định xưa, cách đây hơn 100 năm
  • Một vị chức sắc làng Xa La, tỉnh Hà Đông cũ - Ảnh năm 1915
  • Ảnh chụp cụ đồ Nho từ đầu thế kỷ XX
  • Hai vợ chồng người nông dân Bắc bộ năm 1910
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Tục ăn trầu của phụ nữ Việt xưa
  • Chân dung phụ nữ Việt Nam trước năm 1915
  • Chân dung một gia đình khá giả ở Miền Bắc
  • Mệ Bông Nguyễn Thị Cẩm Hà
  • Trạm tàu điện bờ hồ (nhìn từ góc Hàng Đào
  • Su ra doi cua tuyen ngon doc lap my
  • Đoạn trích từ Nhật ký của Nữ hoàng Victoria. Nguồn: Royal Collection Trust, Luân Đôn
  • Chân dung gia đình hoàng gia năm 1846
  • Nữ hoàng Victoria và Abdul Karim tại Cung điện Buckingham. Nguồn: The New York Times
  • Chân dung Thằng Mõ chụp năm 1902
  • Lính hầu đang khiêng một vị chức sắc cấp huyện đi công vụ, ảnh chụp từ đầu thế kỷ XX
  • Học sinh đi học những năm cuối thế kỷ XIX
  • Những người bán hàng rong ven đường ở Bắc kỳ đầu thế kỷ XX
  • Không ảnh Hà Nội năm 1926
  • Một vị quan lớn cùng đoàn tuỳ tùng và lính cắp gươm, tráp theo hầu - Ảnh từ đầu thế kỷ XX
  • Ngày Tết của một gia đình khá giả ở miền Bắc những năm 1920s

Leave a Comment